SỰ SỤP ĐỔ CỦA DÂN TỘC ISRAEL

Vào thời điểm cực thịnh của triều đại mình, vua David nhận được một lời hứa, một giao ước của Thiên Chúa, qua miệng ngôn sứ Nathan: “Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2Sm 7,16). Thật thế, dù sau vua David, dân tộc Israel đã không thể hiện được sự trung tín trong Giao ước với Thiên Chúa và đã phải chịu nhiều cảnh đổ nát tang thương, nhưng họ vẫn tin rằng, Thiên Chúa không vì sự bất tín của dân Israel mà rũ bỏ Giao ước với họ, nhưng sau khi đã dùng tay chư dân mà sửa dạy, Ngài lại kêu gọi họ hối cải và cho họ được hồi sinh…

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\1.jpg

1.MỘT DÂN TỘC, HAI VƯƠNG QUỐC

Vào thế kỉ 10 BC, sau khi vua David băng hà, con trai của vua với bà Bathsheba là Salomon lên nối ngôi cha làm vua Israel. Triều đại của vua Salomon tuy được hậu thế điểm tô rực rỡ nhưng thực ra lại mang trong nó những khoảng tối rất đáng lo ngại. Trước hết, do xây cất liên miên những công trình to lớn (Đền Thờ mất 7 năm và Cung Rừng Li Băng mất 14 năm), vua Salomon đã vắt kiệt sức người dân Israel. Thứ đến, việc bị lao dịch cưỡng bức cũng khiến cho những người Israel tự do cảm thấy khó mà chấp nhận được. Sau nữa, vua Salomon lại còn đánh nhiều thuế lên các chi tộc Israel nhưng lại miễn thuế cho chi tộc Judah, một điều hẳn gây ra rất nhiều bất mãn và oán thán nơi các chi tộc miền bắc. Lại nữa, để trả cho những giao dịch với vua Hiram, vua Salomon đã cắt cho vua Hiram một số thành biên giới, một điều hẳn là khó chấp nhận với người dân Israel. Cuối cùng, trong đời sống cá nhân, vua Salomon đã hành xử không xứng với tư cách là vị đại diện của Thiên Chúa; Kinh Thánh kể ra tới 700 hoàng hậu và 300 cung phi của vua Salomon. Dù có thể ông đã cưới nhiều người trong số 1000 người vợ này vì những lí do chính trị hay ngoại giao, nhưng sự thực vẫn là trong những năm tháng tuổi già của vua Salomon, những người vợ ngoại bang đã làm cho lòng trí nhà vua rời xa Thiên Chúa. Loạn lạc đã không diễn ra dưới thời vua Salomon, nhưng đã bùng nổ ngay sau khi vua băng hà.

Khoảng năm 930BC, vương quốc do vua David thành lập đã tan rã, do 10 chi tộc phương bắc từ chối công nhận Rehoboam, con của vua Salomon, làm vua Israel. Thay vào đó, họ chọn Jeroboam (931BC-910BC). Các chi tộc này hình thành nên một vương quốc mới, tiếp tục lấy tên gọi là Israel, nhưng thường được gọi là vương quốc Samaria để phân biệt với vương quốc Isarel ban đầu. Hai chi tộc còn lại ở phía nam hợp thành vương quốc Judah.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\2.jpg

Tuy nhỏ bé hơn và cũng từng nhiều lần bị Samaria và Ai Cập gây hấn, nhưng Judah vẫn giữ vững được nền độc lập và lãnh thổ của mình. Nền nội trị của Judah rất ổn định, khi tất cả các vua ngồi trên ngai vàng Judah đều là con cháu trực hệ của vua David. Chỉ có một thời gian ngắn vào cuối thế kỉ thứ 9 BC, vương quyền hoàng tộc David bị lung lay, khi hoàng hâu Athaliah lợi dung cái chết ngoài sa trường của vua Jehoram để khuynh đảo triều chính và tàn sát các hoàng tử con cháu nhà David. Nhưng với sự giúp đỡ của các triều thần trung thành, hoàng tử Joash đã tiêu diệt Athaliah rồi lên kế ngôi vua Judah.

Về phần vương quốc Samaria, trong suốt lịch sử hơn hai trăm năm tồn tại của mình, từ 931BC đến 721BC, nó đã có 19 vị vua và nhiều cuộc đảo chính đẫm máu; chỉ rất ít năm vương quốc được sống trong tình trạng về chính trị. Theo các trình thuật của Kinh Thánh, vương quốc Samaria đã có một khởi đầu đầy bất ổn, mặc dù trước đó, ngôn sứ Akhijah đã từng hứa về một triều đại ổn định. Sau khi Jeroboam băng hà, Nadab (910BC-909BC) con vua Jeroboam lên kế vị (1V 15,25-31). Nhưng chỉ sau một năm, vua bị ám sát bởi Baasha, có lẽ là một viên quan trong triều đình của ông. 

Cũng giống như Jeroboam, vua Baasha (909BC-886BC) cũng đã được chỉ định bằng sấm ngôn và đã cầm quyền suốt đời ông. Con trai của Baasha là Elah (886BC-885BC) lên kế vị, nhưng vua bị Zimri, một viên quan của ông ta ám sát. Zimri (885BC) đã quét sạch nhà Baasha và tự xưng là vua Samaria. Dường như Zimri đã không nhận được lời sấm nào, và cũng không được sự ủng hộ của dân chúng. Vương quốc Samaria lại rơi vào tình trạng rối loạn khi các lực lượng kình địch tranh chấp với nhau. Phải sau vài năm, Omri (885BC-874BC) mới ổn định được tình hình. Ông lên ngôi mà dường như không dựa vào sấm ngôn nào. 

Nhà Omri nắm quyền cai trị từ 885BC đến 842BC, đây cũng chính là thời gian hoạt động của ngôn sứ Eliah. Sau đó, tướng Jehu, theo lời sấm của ngôn sứ Elisha, đã thực hiện một cuộc đảo chính đẫm máu nhất lịch sử Samaria và đã tận diệt nhà Omri. Nhà Jehu cai trị Samaria từ năm 842BC đến năm 745BC, với một triều đại đặc biệt thịnh trị của vua Jeroboam II (782BC-753BC). Đây chính là những năm cuối cùng mà người Samaria nắm quyền tự chủ vận mệnh của mình, trước khi bị cuốn vào vòng xoáy bạo lực được tạo ra bởi đế chế Assyria, tân bá chủ của Lưỡng Hà địa.

2.ĐẾ CHẾ ASSYRIA, UY TRẤN QUẦN HÙNG

Vào thế kỉ 9 BC, Assyria nổi lên như một đế chế hùng mạnh nhất ở vùng đất Lưỡng Hà. Thủ đô của nó đặt ở Nineveh, một địa điểm nằm trên bờ sông Tigris, cách Baghdad hiện nay 350km về hướng tây bắc. Assyria sở hữu một quân đội cực kỳ thiện chiến với những chiến cụ tối tân nhất thời bấy giờ, đây đồng thời cũng chính là đội quân thường trực đầu tiên trên thế giới. Vậy nên, hoàn toàn dễ hiểu khi hoàng đế Shalmaneser III (859BC-824BC) không hài lòng với việc chỉ giữ gìn biên cương hiện có của đế chế mà muốn bành trướng rộng ra bên ngoài. Ông đã phát động nhiều cuộc viễn chinh về phía tây, với mục tiêu chính là thôn tính vương quốc Aram.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\3.jpg

Tuy nhiên, mãnh hổ nan địch quần hồ, vào năm 853BC, hoàng đế Shalmaneser III đã phải đương đầu với một liên minh quân sự đáng gờm của các vương quốc miền tây tại chiến trường Qarqar, phía bắc Syria. Mười một vị vua của Hitti đã thành lập một liên minh quân sự do Damascus lãnh đạo. Vua Ahab (871BC-852BC) của Samaria cũng đã tham gia liên minh này, ông gửi đến 2000 chiến xa và 10000 bộ binh. Sự kiện này tuy không được Kinh Thánh đề cập đến, nhưng chúng ta lại biết được thông tin về việc vua Ahab tham gia liên minh Mười một vua Hitti nhờ một bi ký của Assyria. Đây chính là lần đầu tiên trong lịch sử, bi ký của người Assyria nhắc tới một vị vua Samaria. 

Trận chiến Qarqar năm 853BC kết thúc với phần thắng nghiêng về liên minh, thế nhưng, thắng không kiêu bại không nản, năm 841BC, hoàng đế Shalmaneser III lại thực hiện một cuộc viễn chinh về phía tây và giành được một loạt chiến thắng quan trọng. Theo một bi kí khác của người Assyria, sau thắng lợi trên chiến trường, ông đã chấp nhận của lễ triều cống từ vua Jehu (842BC-815BC) của Samaria, người vừa lật đổ nhà Omri.

Bắt đầu từ thời hoàng đế Shalmaneser III, thời vận của Samaria và Judah hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối cai trị và phương hướng động binh của đế chế Assyria. Khi mà Assyria bị phân tâm vì những vấn đề ở những nơi khác, hai vương quốc này tạm thời có thể có một nền cai trị tương đối tự chủ. Nhưng khi Assyria trở nên hùng mạnh và hướng sự quan tâm của nó về các vương quốc phía tây, thì Samaria và Judah không có lựa chọn nào hơn là phải chịu thần phục và chấp nhận triều cống cho “những con ong đất Ashur” (Is 7, 18). 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\5.jpg

Vào thế kỉ thứ 8 BC, hoàng đế Tiglath-Pileser III (745BC-727BC) là người đã đưa đế chế Assyria đạt tới đỉnh cao sức mạnh và quyền lực của nó. Là một nhà cài trị tài giỏi và thiện chiến, hoàng đế Tiglath-Pileser III đã củng cố lại sức mạnh của đế chế Assyria và tiến hành nhiều chiến dịch chống lại người Babylon ở phía nam Lưỡng Hà và vương quốc Urartu ở phía bắc. Đến năm 743BC, ông lại tiếp tục chinh phạt các vương quốc miền tây, nhưng những cuộc chinh phạt do hoàng đế Tiglath-Pileser III tiến hành đã có nhiều điểm khác biệt so với các vị tiên đế. Để khẳng định sức mạnh và quyền lực thống trị của đế chế Assyria, hoàng đế Tiglath-Pileser III không còn bằng lòng với với việc nhận triều cống từ các vương quốc chiến bại hay trừng phạt những kẻ nổi loạn bằng những cuộc đàn áp quân sự đơn thuần. Thay vào đó, khi có một chư hầu nào nổi loạn, ông cho đội quân vô địch của Assyria đè bẹp hoàn toàn rồi sau đó cho lưu đày người dân của xứ sở đó đến một vùng đất khác trong đế chế và sáp nhập hẳn vùng đất đó thành một tỉnh của đế chế Assyria. 

Chính sách tàn bạo đó của hoàng đế Tiglath-Pileser III dù đôi lúc đã được các vị tiên đế áp dụng từng phần, những chính ông là người đầu tiên áp dụng nó một cách nhất quán. Có lẽ ông đã hi vọng sách lược dứt khoát và cứng rắn của mình sẽ có thể dập tắt mầm mống phản loạn và tinh thần ái quốc của các dân tộc bị trị một các triệt để. Sau thời ông, các hoàng đế Assyria và Babylon khác đã tiếp tục thực hiện đường lối cai trị của ông. Chính sách lược độc địa đó đã đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn cho hai vương quốc của người Israel.

3.SỰ TUYỆT DIỆT CỦA VƯƠNG QUỐC SAMARIA 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\4.jpg

Dưới sức ép cực lớn từ bên ngoài của Assyria, tình hình chính trị của Samaria bắt đầu có dấu hiệu rã nát với những cuộc đảo chính cung đình liên tiếp xảy ra. Năm 745BC, Salum đã giết vị vua cuối cùng của nhà Jehu để lên ngôi, nhưng vua bị Menahem ám sát và chiếm ngôi vào cùng năm. Sau đó, con của Menahem là vua Pekahiah lại bị Pekah tiếm vị vào năm 736BC. Cờ đến tay phải phất, vua Pekah (737BC-732BC) đã cố gắng chứng tỏ cho Assyria thấy Samaria không phải là một con giun muốn xéo thế nào thì xéo. Năm 738BC, các vua Syria, Samaria, Philistine, Ammon, Moab, Edom và các bộ tộc Arabia đã thành lập Liên minh Syro-Ephraimite, mà hai nhà lãnh đạo chính của nó là vua Rezin của Damascus và vua Pekah của Samaria, nhằm chống lại đế chế Assyria. Dù bị ép buộc nhưng vua Ahaz của Judah đã từ chối tham gia liên minh này. 

Vào năm 734BC, hoàng đế Tiglath-Pileser III đã đập tan liên minh đó, chiếm Damascus, giết chết vua Rezin và sáp nhập Syrya vào hệ thống các tỉnh của đế chế. Hoàng đế Tiglath-Pileser III còn chinh phục cả đồng bằng Philistine và hành quân xa mãi đến tận Ai Cập. Tại Samaria, sau khi Liên minh Syro-Ephraimite tan rã, các thành phần ủng hộ Assyria đã hạ bệ vua Pekah và lập Hoshea (732BC-724BC), một người dễ bị uốn nắn, lên làm vua. Ở phía bắc, miền Galilee của Samaria bị biến thành một tỉnh của đế chế Assyria khiến vương quốc Samaria chỉ còn lại một vùng lõi ở khu vực đồi núi trung tâm, lúc đó cũng đang bị vây trong vòng ba năm (2V 17, 5).

Vương quốc Samaria sau chiến bại toàn diện trước Assyria đã lay lắt kéo dài nền tự trị mong manh của nó thêm một thời gian ngắn nữa. Đến năm 721BC, Samaria bị thôn tính hoàn toàn bởi hoàng đế Sargon II (721BC-705BC) của Assyria. Trong một bi kí, hoàng đế Sargon II tuyên bố là đã chiếm Samaria trong năm đầu tiên ông làm hoàng đế và đã đưa 27000 dân Israel đi đày. Sau đó, ông đã cho xây lại thành Samaria to rộng hơn trước rồi đưa những dân tộc ở các miền đất khác trong đế chế vào đó, đồng thời tái tổ chức hệ thống cai trị trong cả vùng dưới quyền một viên tổng trấn Assyria. Đám dân ô hợp tứ xứ mà hoàng đế Sargon II cho quy tập ở Samaria sẽ là một chướng ngại lớn cho nỗ lực phục hưng vương quốc của người Israel sau này.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\6.jpg

4.VƯƠNG QUỐC JUDAH TRONG VÒNG VÂY CÁC BÁ CƯỜNG

Vào khoảng thế kỉ 9 BC, bàn cờ địa chính trị trong khu vực có nhiều chuyển biến. Đầu tiên là việc đế chế Assyria rơi vào một cơn suy thoái nhẹ do những vấn đề về kinh tế và quản trị đế chế cũng như sự đe dọa của vương quốc Urartu ở mặt bắc. Cùng với đó là sự tái xuất hiện của người Babylon, với đà phát triển mạnh về dân số và sức mạnh, sẵn sàng thế vào lổ hổng quyền lực đang xuất hiện ở Lưỡng Hà. Dù đã suy yếu nhiều, nhưng với bản chất hiếu chiến, đế chế Assyria vẫn khuấy động những cuộc can qua rút cuộc sẽ dìm chết chính họ. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\6a.jpg

Năm 705BC, hoàng đế Sargon II băng hà, đế chế Assyria chìm trong khói lửa nội loạn. Phía đông, tỉnh Babylon nổi dậy, còn ở phía tây đế chế Assyria lại nổi lên một liên minh chống đối của các vua Judah, Phoenicia, Philisstine, và vùng bên kia sông Jordan. Liên minh này bị ngôn sứ Isaiah phê phán là hành động khinh suất và liều lĩnh. Tuy nhiên, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, bất chấp lời khuyến cáo của ngôn sứ Isaia, vua Hezekiah của Judah vẫn gia nhập liên minh, thậm chí còn trở thành kẻ cầm đầu liên minh. Vua Hezekiah sai người qua Ai Cập để thương thảo hiệp ước, rồi tất bật lo tăng cường các công trình phòng thủ cho kinh thành Jerusalem: xây thêm các pháo đài, đào kênh Siloam để dẫn nước từ suối Gihon vào trong thành.

Năm 701BC, sau khi xử lý xong cuộc bạo loạn của tỉnh Babylon ở miền đông, hoàng đế Sennacherib (704BC-681BC) quay sang phía tây. Tiến quân từ phía bắc xuống dọc theo con đường ven Địa Trung Hải – Via Maris, ông đè bẹp cuộc nổi loạn của các vương quốc Tyre, Byblos, Ascalon. Sau đó, bằng một loạt chiến thắng áp đảo, ông khuất phục các vương quốc dọc theo Vương Lộ là Ammon, Moab và Edom. Sau đó, hoàng đế Sennacherib tiến lên bao vây 46 thành có tường lũy bao quanh và vô số các làng mạc không có tường bao quanh của Judah, cùng bắt đi 200150 người làm chiến lợi phẩm, theo một bị kí của Assyria ghi lại. Ông đã đích thân dẫn quân bao vây Jerusalem và nhốt vua Hezekiah tại đó “như một con chim trong lồng”. Khi biết tin Ai Cập không thể tới tương trợ và thấy mình lâm vào thế phải chiến đấu hoàn toàn đơn độc với đoàn quân đông đảo của Assyria, biết rằng nước xa không thể cứu được lửa gần, vua Hezekiah đã dự tính đầu hàng hoàng đế Sennacherib.

Trong thời điểm tưởng chừng như mọi hi vọng đã tiêu tan, thì ngôn sứ Isaiah lại loan báo về việc Thiên Chúa sẽ ra tay cứu thoát dân Người. Quả vậy, Jerusalem bị vây nhưng được giải thoát vào phút cuối cùng bởi những nguyên nhân mà cho đến nay vẫn còn chìm trong màn sương bí ẩn. Điều này nếu căn cứ vào bản văn Kinh Thánh “Chính đêm ấy, thiên sứ của ĐỨC CHÚA ra đánh chết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong trại quân Assyria. Ban sáng, khi người ta thức dậy, thì kìa, toàn là thây ma xác chết” (2V 19, 35) thì phần lớn quân đội Assyria đã bị thiên sứ của Thiên Chúa tiêu diệt, nhưng trong sử biên của Assyria không hề nhắc đến sự kiện nào như vậy. 

Một vài học giả ước đoán rằng đã có một thiên tai hay ôn dịch nào đó trong đội quân Assyria đang vây thành, hoặc hoàng đế Sennacherib phải rút quân vì ở miền đông đế chế có một sự kiện đặc biệt cần đến sự can thiệp trực tiếp của ông: Marduk-apla-iddina II lại tự tuyên bố là vua Babylon. Với việc hoàng đế Sennacherib bị các con trai của ông ta giết chết trong lúc ông đang tế lễ trong đền thờ thần Nimrud năm 681BC (2V 19, 37), đế chế Assyria bắt đầu xuống dốc nhanh chóng. Quả thật, chiến đấu trên hai mặt trận không bao giờ là điều dễ dàng. 

Tiếp tục bị đánh bại một lần nữa tại Ai Cập vào năm 660BC, đế chế Assyria bắt đầu tan rã. Sau khi hoàng đế Ashurbanipal băng hà năm 627BC, đế chế Assyria rơi vào hỗn loạn do một loạt các cuộc nội chiến. Cuối cùng, dưới sự lãnh đạo của Nabopolassar, Babylon và các lãnh thổ phía đông đã lợi dụng tình trạng gần như vô chính phủ của đế chế Assyria để tự giải phóng. Đáng ra phải tận dụng thời cơ toàn cục đang biến động mạnh để tự tạo lập vị thế mới thuận lợi cho mình, thế nhưng, do một sai lầm trí mạng trong tính toán cán cân địa chính trị, Judah đã để mình mắc kẹt trong cuộc long tranh hổ đấu giữa Assyria và Babylon, và phải lãnh nhận những hậu quả khốc liệt.

Năm 609BC, Pharaoh Necho II (610BC-595BC, thuộc triều đại thứ 21), một đồng minh của Assyria, đã đưa quân lên miền bắc hội sư với quân Assyria tại Carchemish, một địa điểm bờ tây bắc sông Euphrates, để chống lại Babylon. Nhưng vua Judah là Josiah (640BC–609BC), vì một liên minh kí kết trước đó với Babylon, đã can dự vào chiến cuộc bằng cách đưa quân chặn đường Pharaoh Necho II tại Megiddo, và đã mất mạng tại chiến địa nổi danh này. Sự kiện này được tường thuật lại trong Kinh Thánh: “Vào thời vua Josiah, vua Ai Cập là Pharaoh Necho lên gặp vua Ashur bên bờ sông Euphrates. Vua Josiah đi đón vua Necho, nhưng vua Necho giết vua Josiah ở Megiddo, khi vừa thấy vua này” (2V, 23, 29). Tuy nhiên, sự tác động của vua Josiah cũng đã làm Ai Cập mất thăng bằng, và một cách gián tiếp đã góp phần vào chiến thắng của Babylon tại Carchemish năm 609BC. Nhưng quả thật, về phía người Israel, cái chết vô vị của một vị minh quân như Josiah sau này được nhìn nhận như là thảm họa mở đầu cho sự sụp đổ của Jerusalem và Judah. Quả là, trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\7.jpg

5.SỰ SỤP ĐỔ CỦA VƯƠNG QUỐC JUDAH

Quan sát những động thái quân sự hướng thẳng về phía tây sau khi tận diệt Assyria của đế chế Babylon, Judah đã sực tỉnh để nhận ra gã đồng minh Babylon ngày nào của họ nay đã trở thành gã bạo chúa tham lam và tàn bạo mới của miền Mảnh Trăng Màu Mỡ, nhưng đã muộn. 

Hoàng đế Nabuchodonosor II (630BC-562BC) tấn công Ai Cập vào năm 601BC nhưng không thể khuất phục được nó, chủ yếu là do một loạt các cuộc phá rối phía sau của Judah, Phoenicia và Aram. Trận chiến giữa hoàng đế Nabuchodonosor II và Ai Cập khiến cả hai bị tổn thất nặng nề. Vào năm 598BC, bất chấp sự ngăn cản của ngôn sứ Jeremias, vua Jehoiakim của Judah cho rằng trong hai cường quốc đang tranh chấp thì Ai Cập mạnh hơn, nên quyết định ngả theo Ai Cập. Đáng tiếc, đây lại là một sai lầm trí mạng khác của các vị vua Judah. Ngay trong chính năm đó, hoàng đế Nabuchodonosor II đã thân chinh tiến công Judah. Vua Jehoiakim băng hà khi Jerusalem đang bị bao vây, và con ông là Jehoiachin lên nối ngôi. Thành Jerusalem thất thủ vào tháng 3 năm 597BC, nhưng Đền Thờ vẫn chưa bị phá hủy. 

Hoàng đế Nabuchodonosor II bắt được vua Jehoiachin, đem ông và hoàng tộc đi đày ở Babylon, đồng thời đặt Zedekiah lên ngôi vua. Không từ bỏ ý định thoát khỏi sự kiểm soát của Babylon, vua Zedekiah lại đưa Judah về phe với Ai Cập. Hoàng đế Naboukhodonosor II trả đũa quyết liệt và nhanh chóng, ông cho bao vây Jerusalem ngày 15-01-587BC, và triệt hạ thành ngày 19-01-586BC. Vị tướng của Nabuchodonosor II là Nebudaradan đã cho quân bình địa hoàn toàn Jerusalem. 

Cuộc tàn sát kinh hoàng và man rợ của quân Babylon cùng khung cảnh khói lửa thê lương của thành đô Jerusalem đã đóng một dấu sắt cháy bỏng đầy đau đớn lên ký ức tập thể của người dân Judah. Bằng chứng từ khoa khảo cổ gợi ý rằng dân số của Judah thời đó đã giảm sút từ 250000 trong thế kỉ 8 BC xuống còn chỉ khoảng một nửa sau sự sụp đổ của Jerusalem. Judah cố gắng khởi nghĩa giành lại nền độc lập vào năm 582BC, nhưng đã bị tướng Nebudaradan đè bẹp nhanh chóng. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\8.jpg

VĨ THANH

Như vậy, hai vương quốc của người Israel đã sụp đổ hoàn toàn dưới sức ép quân sự khủng khiếp của các đế chế trong khu vực. Nhưng theo Kinh Thánh, sự thất bại của họ phải truy nguyên về những sự kiện thuộc chiều kích đức tin. Theo đó, họ bị lâm cảnh lầm than do đã bất chính trong đời sống và giả hình trong phụng tự. Họ bị tan hoang cửa nhà do đã phớt lờ các lề luật của ĐỨC CHÚA mà thẳng tay bóc lột bần dân trong xứ sở. Họ bị ngoại bang đánh bại do đã bỏ rơi ĐỨC CHÚA của họ để chạy theo các ngẫu tượng của các dân tộc lân cận, những thứ đã không thể cho họ một sự cứu giúp nào trong cơn bỉ cực. 

Biến cố hai vương quốc sụp đổ là một bài học không thể nào quên của dân tộc Israel. Thế nhưng, kì diệu thay, việc nghiền ngẫm những biến cố đau thương đó trong những năm tháng lưu đày tại Babylon, dưới sự trợ lực của ánh sáng đức tin và lời hứa giải thoát do các ngôn sứ rao giảng, cuối cùng lại góp phần đưa đến sự hồi sinh đầy ngỡ ngàng của dân tộc Israel.

Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 10-2022

Tài liệu tham khảo 

-Kinh thánh trọn bộ, bản dịch 2011

-Phạm Hữu Quang – Dẫn nhập Thánh Kinh 

-Trần Minh Thực – Lịch sử Cứu độ

-Herodotus – Lịch Sử

-Mortimer Chamber – Lịch sử văn minh Phương Tây

-Viện Smithsonian – Lịch sử thế giới, chân dung nhân loại theo dòng sự kiện

-John Keegan – Lịch sử chiến tranh 

-Bernard Lewis – Lịch sử Trung Đông

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started