SỰ HỒI SINH CỦA DÂN TỘC JUDAH

Hai vương quốc của người Israel đã sụp đổ hoàn toàn dưới sức ép quân sự khủng khiếp của các đế chế trong khu vực. Nhưng theo Kinh Thánh, sự thất bại của họ phải truy nguyên về những sự kiện thuộc chiều kích đức tin. Theo đó, họ bị lâm cảnh lầm than do đã bất chính trong đời sống và giả hình trong phụng tự. Thế nhưng, kì diệu thay, việc nghiền ngẫm những biến cố đau thương đó trong những năm tháng lưu đày tại Babylon, dưới sự trợ lực của ánh sáng đức tin và lời hứa giải thoát do các ngôn sứ rao giảng, cuối cùng lại góp phần đưa đến sự hồi sinh đầy ngỡ ngàng của dân tộc Israel.

1.BABYLON, NƠI CHỐN LƯU ĐÀY 

Nói đến nơi chốn lưu đày Babylon, chắc hẳn nhiều người hình dung ra hình ảnh từng đoàn người Israel lầm lũi rời bỏ quê hương để đi đến những vùng đất xa xôi và cằn cỗi kiểu như Australia và Siberia, những nơi lưu đày của các đế chế cận hiện đại Anh và Nga. Thế nhưng, trong phiên bản hình thức lưu đày đầu tiên của nhân loại, người Assyria và người Babylon lại không nhằm trừng phạt các cá nhân chống đối mà lại có chủ đích nhắm vào việc bứng gốc và phân tán ra khỏi quê nhà các dân tộc bị trị nổi loạn, với mưu đồ xoá sổ căn tính dân tộc của họ. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\8a.jpg

Thế nên, tuy có nhiều người thuộc vương quốc Samaria bị lưu đày đến tận biên giới phía đông của đế chế Assyria là dãy Zagros, nhưng phần đông các người Judah lại bị người Babylon lưu đày đến vùng đất trung tâm của đế chế, tức là ngay chính tại kinh đô Babylon. Do mười chi tộc Israel thuộc vương quốc Samaria thực tế đã bị tan loãng và biến mất trong khối dân đa tạp của đế chế, nên kể từ đây, ta chỉ còn nói về Judah, chi tộc Israel duy nhất còn tồn tại sau cuộc Lưu đày Babylon.

Babylon, nơi người Judah bị lưu đày, là một khu vực có đất đai cực kì màu mỡ, với những cánh đồng lúa mì einkorn vàng óng bạt ngàn, có thể cho sản lượng gấp 300 lần hạt giống đem gieo, mức năng suất cao nhất của nền sản xuất lương thực cổ thời. Cùng với đó, Babylon còn có những vườn chà là và vả sum suê trĩu quả chế biến nên lượng thực phẩm, rượu và mật thừa mứa. Nông sản của vùng đất này như lúa mì, lúa mạch, kê, vừng to đến nỗi sử gia Herodotus thấy ngại khi phải kể lại, vì sợ bị người ta cho là đang nói quá. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\9.jpg

Người Judah chắc hẳn phải thấy cực kì ngỡ ngàng trước sự vĩ đại của kinh thành Babylon và những truyền thống văn hoá kì lạ của nó. Theo lời kể của Herodotus, Babylon là một toà thành khổng lồ vuông vắn, với mỗi cạnh dài 120 stadia (đơn vị đo chiều dài của người cổ đại, bằng khoảng 200m), tức là mỗi bề của nó dài 24km! Nó có hai vòng thành với mỗi mặt thành rộng 50 pekhes hoàng gia (mỗi pekhes hoàng gia tương đương với 50cm), tức là thành dày tới 25m. Giữa hai vòng thành là một hào nước rộng nối liền với sông Euphrates. Hai lớp thành cực dày cộng với hào nước sâu khiến cho Babylon dường như trở thành bất khả công phá. 

Không chỉ vững chãi, kinh thành Babylon còn được điểm tô bằng những công trình tuyệt mĩ. Đầu tiên phải kể đến Vườn Treo Babylon, một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại; ngoài ra, còn có Cổng thành Ishtar được khảm bằng những viên đá quý rực rỡ sắc màu cùng nhiều ngôi đền lộng lẫy bao quanh toà tháp Babel nhiều tầng. Cũng theo Herodotus, ở Babylon tồn tại nhiều phong tục kì lạ về tình dục, hôn nhân, và buôn bán mà chắc hẳn đã nhiều dịp khiến những người Judah tha hương sửng sốt. Tuy vậy, sinh sống ở Babylon, người Judah lại có dịp tiếp xúc trực tiếp với hệ tư tưởng vùng Lưỡng Hà, vốn rất thâm sâu và phong phú. Sự gặp gỡ đó đã ghi lại dấu ấn trong các kinh sách được cho là đã được viết xuống ngay tại miền đất lưu đày Babylon.

Miền đất Babylon như vậy, còn hoàn cảnh của những người Israel bị lưu đày thì như thế nào? Lưu dân Judah hẳn nhiên là đã phải chịu một cú sốc khủng khiếp về tâm lý và luân lý. Nhưng đàng khác ta cũng không nên tưởng cuộc sống bên Babylon giống như trong một trại tập trung. Bên Babylon, người Judah vẫn được hưởng một sự tự do tương đối, tỉ dụ như việc ngôn sứ Ezekiel được tự do đi thăm viếng đồng bào đang lo trồng trọt. Thế nhưng, dù lần hồi có được một cuộc sống tạm yên bình nơi phương xa xứ lạ, thì trong lòng người dân Judah vẫn canh cánh những câu hỏi nhức nhối mà tình cảnh dân tộc đặt ra cho họ: Có ĐỨC CHÚA thật không? Nếu có thì tại sao Ngài lại để đất nước, để thành thánh Jerusalem và Đền Thờ bị tàn phá như vậy? Hay là thần Marduk của Babylon mạnh hơn ĐỨC CHÚA? ĐỨC CHÚA có còn nhớ Lời Hứa hay đã huỷ bỏ Giao Ước rồi?

2.HỒI SINH ĐỐNG XƯƠNG KHÔ TRONG SA MẠC

Cũng như đã xảy ra trong thời các Thủ Lãnh, khi lâm vào cảnh tang thương đau đớn rồi được các ngôn sứ của Chúa khuyên răn chỉ dạy, dân Judah mới nhận ra tội lỗi ghê gớm mà chính họ đã gây ra. Chính sự cứng lòng và bất trung đã làm cho họ xa lìa khỏi tình yêu Thiên Chúa và đánh mất hạnh phúc của mình. Tuy nhiên, trong kế hoạch của Thiên Chúa thì Lưu đày không phải là ‘viên thuốc độc’, mà là ‘viên thuốc đắng’ mà Thiên Chúa dùng để chữa trị ‘chứng bệnh bất tuân’ của dân Người. Bởi ngay khi quân Babylon cưỡng bức người Judah rời bỏ quê hương xứ sở, đã có Lời Chúa phán qua trung gian ngôn sứ Jeremias:

“Muôn dân hỡi, lắng nghe lời ĐỨC CHÚA

và loan đi các đảo xa vời,

rằng Đấng đã phân tán Israel

cũng chính Người sẽ thâu tập lại,

canh giữ họ như mục tử canh giữ đoàn chiên 

Họ sẽ reo mừng đi tới đỉnh Zion, 

lũ lượt kéo nhau về hưởng ân lộc ĐỨC CHÚA” (Gr 31, 10.12).

Quả vậy, Thiên Chúa là Thiên Chúa tín thành, không bỏ rơi dân Ngài đã chọn. Ngay tại chốn lưu đày, Ngài đã cho các ngôn sứ như Isaiah Đệ nhị và Ezekiel đến giữa đoàn dân Judah đang khóc than vì lầm lỗi trong quá khứ và tuyệt vọng về tương lai, để nói cho họ biết rằng “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 117, 1); rằng Thiên Chúa sẽ ban ơn cho họ biết hối cải những tội lỗi mà họ và cha ông đã phạm, cùng biến đổi họ nhờ thần khí thánh hoá của Ngài, như trong lời sấm truyền của ngôn sứ Isaiah Đệ nhị: “Ta dẫn người mù tối qua những lối chưa tường, trên nẻo đường mới lạ, sẽ dìu họ bước đi. Ta biến đổi bóng tối thành ánh sáng soi họ, và uốn khúc gập ghềnh thành quan lộ thẳng băng. Những điều ấy, Ta sẽ thực hiện, không bỏ sót điều nào.” (Is 42, 14-16)

Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai điều biến đổi chỉ có thể nói là kì diệu ở đoàn dân Israel lưu đày tại Babylon. Điều kì diệu thứ nhất là việc tại chốn lưu đày, dân Judah đã có một nhận thức mới mẻ và thiêng liêng hơn trong việc sống đức tin. Theo đó, với người Judah tha hương, thay cho phụng tự và hi lễ tại Đền Thờ trong quá khứ, cộng đoàn tại chốn lưu đày lại tập họp nhau vào ngày sabbath để thờ phượng Thiên Chúa và suy ngẫm Lời Chúa; thay cho nhà vua đã bị bắt đi lưu đày, thì Thiên Chúa lại trở thành vua thật sự của họ; thay cho đất đai của họ đã bị chiếm giữ, dấu cắt bì lại trở thành dấu chỉ của một vương quốc mang chiều kích thiêng liêng; và do bị buộc phải sống trên một mảnh đất không trong sạch, nên người Judah lưu đày đã dành nhiều bận tâm cho sự trong sạch theo nghi lễ. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng tại nơi lưu đày Do Thái giáo được cưu mang, để rồi sẽ được sinh hạ một cách chính thức với cuộc cách tân giao ước của Esdras tại Jerusalem vào khoảng năm 420BC (Nkm 8,1-18; 9,1-38).

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\10.jpg

Điều kì diệu thứ hai của cuộc lưu đày liên quan đến hoạt động văn chương. Dù chúng ta không thể nói ra một cách chính xác hoạt động này đã diễn ra ở đâu và vào thời điểm nào, nhưng những ghi chép và những truyền thống khác nhau vẫn giúp chúng ta thấy được một số manh mối. Trên tất cả, để duy trì đức tin và niềm hi vọng trong lòng dân tộc, các tư tế đã nhắc nhở dân chúng về cội nguồn của họ. Việc đọc lại lịch sử dạng này chính là truyền thống có tên là Tư tế, một trong bốn truyền thống làm thành bộ Ngũ Thư. Luật Thánh thiện trong sách Lv 17 – 26 là những luật đã được thi hành tại Đền Thờ Jerusalem, lúc này được gom lại và điển chế hóa một cách dứt khoát, để rồi sau khi hồi hương, bản luật này dần dần trở thành có dạng như sách Levi. 

Các học giả cũng cho rằng dòng văn chương Đệ Nhị Luật lịch sử, bao gồm các sách Gs – 2V, hẳn đã được biên soạn ngay trước khi vương quốc sụp đổ, rồi được biên tập, thêm thắt và thích ứng với hoàn cảnh của những người đi lưu đày. Những lời của các ngôn sứ Ezekiel và Isaiah Đệ Nhị cũng được lưu giữ, theo dạng thành văn hoặc truyền khẩu. Có kinh nghiệm về tai họa, đau khổ, đồng thời được tiếp xúc với tư tưởng Babylon và Ba Tư, các hiền nhân Israel đã đào sâu những suy tư của mình về thân phận con người. Những suy tư này sau nhiều thế kỉ dần dần kết tinh thành những tác phẩm như sách Job. Những Thánh Vịnh với giọng điệu mới, Tv 137; 44; 80; 89, có thể đã được biên soạn vào thời điểm này để kêu xin Thiên Chúa là Đấng Tín Thành.

Như vậy, từ trong đau khổ và chính bằng đau khổ mà Thiên Chúa đã sửa dạy dân Ngài. Và rồi, càng nhìn nhận lỗi lầm của mình, dân Judah càng trông mong một ngày sẽ được giải thoát khỏi kiếp lưu đày nơi xứ lạ và được trở về lại quê cha đất tổ, miền đất mà Thiên Chúa đã hứa ban cho các tổ phụ của họ. Thế nhưng, sinh sống ở ngay chính trung tâm quyền lực của đế chế Babylon, họ hiểu rõ sức mạnh khủng khiếp của sắc dân đang cai trị họ. Đối với họ, tự mình giải thoát khỏi thân phận lưu đày là một điều vượt ngoài những mưu tính và khả năng của họ. Để trấn an nỗi tuyệt vọng của dân Judah, Thiên Chúa đã sai ngôn sứ Ezekiel đến tuyên sấm những lời sau đây:

ĐỨC CHÚA phán: Này nhà Israel vẫn nói: “Xương cốt chúng tôi đã khô, hi vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời!” Chính vì thế, Edekiel, ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng: “ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán như sau: Hỡi dân ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Israel. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. TA SẼ ĐẶT THẦN KHÍ CỦA TA VÀO TRONG CÁC NGƯỜI VÀ CÁC NGƯƠI SẼ ĐƯỢC HỒI SINH.  Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, Ta đã phán là Ta làm” (Ed 37, 11-14).

Thực vậy, theo cái nhìn của Kinh Thánh, nếu như Thiên Chúa đã dùng bàn tay của người Babylon mà sửa trị Judah, thì Người đã lại dùng sức mạnh của một dân tộc khác để đưa dân Israel về lại quê hương. Người dân Israel cho rằng dân tộc đó chính là một khí cụ tuyệt hảo mà ĐỨC CHÚA dùng để giải thoát dân Ngài, đến độ, thủ lãnh của dân tộc đó là hoàng đế Cyrus đã được ngôn sứ Isaiah Đệ nhị tặng cho danh hiệu “kẻ được Thiên Chúa xức dầu” (Is 45,1), vốn xưa nay chỉ dành riêng cho các bậc quân vương nhà David. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\11.jpg

3.ĐẠI ĐẾ CYRUS, NHÀ GIẢI PHÓNG

Từ năm 562BC, sau khi hoàng đế Naboukhodonosor II băng hà, quyền lực của đế chế Babylon bắt đầu suy giảm nhanh chóng. Chỉ trong vòng bảy năm, ngai vàng đã đổi chủ tới ba lần, để rồi rơi vào tay của Nabonidus (556BC-545BC). Hoàng đế, do xuất thân từ dòng dõi tư tế và có lòng sùng kính đặc biệt thần mặt trăng Sin, đã cho khôi phục đền thờ kính vị thần này tại Haran, và do vậy, đã gây ra sự kình địch của giới tư tế đầy quyền lực của thần Marduk, điều này đã tạo nên một sự rạn nứt trong nền tảng quyền lực của đế chế Babylon.

Vì một lí do nào đó mà đến nay vẫn còn là bí ẩn, hoàng đế Nabonidus đã thiên đô từ Babylon sang ốc đảo Teima nằm phía bắc sa mạc Arabia, việc làm khinh suất này của ông đã đưa tới hai hệ quả nghiêm trọng cho nền chính trị đế chế Babylon. Thứ nhất, với việc đặt trung tâm hành chính của đế chế ở một vị trí ngoại vi, hoàng đế Nabonidus đã khiến việc kiểm soát và điều hành một đế chế rộng lớn như Babylon thêm phần khó khăn. Thứ hai, việc hoàng đế Nabonidus vắng mặt tại Babylon khiến cho những năm đó người ta không thể cử hành Lễ hội Năm mới, lễ hội mà trong đó hoàng đế đóng vai trò chính. Đối với người Babylon, việc hoàng đế Nabonidus không cử hành những nghi thức của lễ hội này để kính thần Marduk rõ ràng là một tai họa, vì người dân tin rằng sự may mắn và chính sự hiện hữu của Babylon phụ thuộc vào vị thần này.

Mối đe dọa từ bên ngoài do thế lực ngày càng lớn mạnh của người Medes ở miền đông bắc đế chế bắt đầu trở nên rõ ràng. Người Medes đã từng là đồng minh của người Babylon trong việc lật đổ đế chế Assyria, lúc này chính họ lại đe dọa đế chế Babylon. Để đối phó với người Medes, Nabonidus đã kết đồng minh với vua Cyrus (576BC-530BC) của Ba Tư, một chư hầu của người Medes. Cyrus, vua của người Achaemenid ở Elam, không cần người Babylon hỗ trợ, đã quật khởi tại Ecbatana để chống lại ách thống trị của Astyages, vua của Medes. Vương quốc Medes nhanh chóng sụp đổ năm 555BC, và người Ba Tư trở thành chúa tể của tất cả vùng đất thuộc dãy Zagros nhìn xuống vùng đồng bằng Lưỡng Hà. Lúc này, hoàng đế Nabonidus nhận ra người Ba Tư mới là kẻ thù đích thực của họ. 

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\12.jpg

Không vội tấn công vào Babylon, vua Cyrus đưa quân về phía tây công phá đô thành Sardis và bắt sống vua Croesus của xứ Lydia miền Tiểu Á vào năm 546BC. Sau chiến thắng lẫy lừng đó, tưởng chừng như Babylon sẽ là mục tiêu tiếp theo, vậy mà thật ngạc nhiên và gây hoang mang cho những người Judah đang mong chờ một nhà giải phóng, ông lại tiếp tục bỏ qua vùng lưu vực Euphrates và Tigris để tiến quân về hướng khác. Hoá ra tính toán chiến lược của Cyrus là muốn đặt một hàng rào phòng ngự đủ mạnh dọc theo sông Oxus để bảo vệ cạnh sườn đông bắc cho đế chế Ba Tư non trẻ trước các bộ bộc du mục hiếu chiến miền Trung Á. Năm 540BC, sau một loạt chiến thắng ở miền thượng du, Cyrus quay trở lại với cái lõi của đế chế Babylon giờ dường như đã nằm gọn trong bàn tay ông. Năm 539BC, một trận chiến giữa quân đội Babylon và Ba Tư nổ ra tại Opis nằm bên bờ sông Tigris, với kết quả là sự thảm bại của người Babylon. Con đường tiến về kinh thành Babylon đã hoàn toàn bị bỏ ngỏ cho người Ba Tư.

Các cánh quân Ba Tư nhanh chóng vượt qua các chi lưu hai con sông Euphrates và Tigris để xiết vòng vây xung quanh kinh thành Babylon, vốn lâu nay được truyền tụng là bất khả xâm phạm. Ít ai biết được rằng điểm yếu duy nhất của hệ thống phòng ngự Babylon chính là con sông Eupherates được cho chảy qua ngay giữa thành phố. Người Babylon đã cho đặt một lưới kim loại chắn ngang sông, để tuy dòng sông có thể chảy qua thành phố nhưng vẫn ngăn chặn được sự xâm nhập từ bên ngoài. Thế nhưng, tấm lưới này không chạm đáy sông. Ngay bên ngoài thành là một hồ nước chu vi lên tới 420 stadia, được sử dụng để rút nước sông Euphrates trong quá trình thi công các công trình phòng ngự cho thành và cây cầu bắt qua chính giữa thành. Đây sẽ là những điểm yếu trí mạng của thành Babylon mà Cyrus sẽ lợi dụng.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\13.jpg

Thấy trước Cyrus sẽ tiến công, người Babylon đã tích trữ lương thực đủ dùng trong nhiều năm. Vì thế trong khi cư dân Babylon không mấy lo lắng về cuộc vây hãm thì Cyrus lại lúng túng khi thấy cuộc vây hãm kéo dài mà không đạt được tiến triển nào, nhưng cuối cùng ông đã nghĩ được kế để hạ thành. Cyrus cho bố trí một cánh quân ở nơi dòng sông chảy vào thành, một cánh quân khác ở nơi dòng sông chảy ra khỏi thành, còn đích thân ông dẫn cánh quân thứ ba đi đào một con kênh dẫn nước từ sông Euphrates vào hồ nước cũ ở ngoại thành. Điều này khiến cho dòng chảy của sông Euphrates trong một vài giờ hạ xuống thấp đến mức có thể lội qua được. Hai cánh quân Ba Tư phục sẵn sẽ xuất kỳ bất ý đột nhập vào thành bằng cách luồn qua bên dưới các tấm lưới sắt chắn ngang sông. Quy mô rộng lớn của thành Babylon đã khiến cho cả khi khu vực tiếp giáp với tường thành đã lọt vào tay quân Ba Tư, những người ở trung tâm thành phố, ngẫu nhiên lúc đó đang tổ chức một lễ hội thâu đêm, vẫn tiếp tục nhảy múa vui chơi cho tới sáng, khi mà mọi việc đã an bài.

Hoàng đế Cyrus tiến vào Babylon tháng 10 năm 539BC. Ông tuyên bố mình là người giải phóng người dân Babylon ra khỏi ách thống trị của Nabonidus. Hoàng đế Cyrus đã tính toán chính xác, vì người dân thành Babylon đã đầu hàng mà không hề kháng cự. So với các đạo quân chinh phục như Asssyria và Babylon, đạo quân Ba Tư của hoàng đế Cyrus rõ ràng là nhân đạo hơn. Các đền thờ ở Babylon và các thành lân cận không hề bị tổn hại, do quân đội Ba Tư đã được lệnh phải tôn trọng tôn giáo người bản xứ và tránh gây sợ hãi cho họ. Quả thực hoàng đế Cyrus đã đối xử với các thần linh của các dân tộc bị chinh phục một cách khoan dung. Và chính trong bối cảnh đó, người Judah ở Babylon đã được hoàng đế Cyrus cho chấm dứt số phận lưu dân để trở về quê hương bản quán.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\14.jpg

4.KHI TÙ NHÂN ZION TRỞ VỀ

Chỉ vài tháng sau khi lên ngôi, hoàng đế Cyrus đã ban hành một chiếu chỉ vào năm 538BC cho phép người Judah hồi hương và tái thiết Đền Thờ. Ta có thể tìm thấy chiếu chỉ này ở trong hai sách Esdras và Nehemiah. Chiếu chỉ này được lưu làm hai bản trong văn khố hoàng gia, một bản bằng tiếng Do thái và một bản bằng tiếng Aram, ngôn ngữ chính thức của đế chế Ba Tư. Người Judah không bị ép buộc phải ra đi, và quả thực, cuộc sống đã trở nên thoải mái của xứ lưu đày Babylon khiến nhiều người trong số họ không muốn hồi hương mà chọn ở lại và chỉ tham gia tái thiết Đền Thờ bằng cách đóng góp tài chính. Số người này tạo thành một cộng đoàn hải ngoại quan trọng và khá sung túc. 

Các đoạn khác nhau trong bản văn Thánh Kinh, Er 1 – 6; Kg; Dcr 1 – 8 hé lộ cho chúng ta biết một vài hình ảnh về những vấn đề khó khăn mà những người Judah hồi hương phải đối mặt. Khó khăn thứ nhất là sự tranh chấp đất đai giữa những người hồi hương và những dân đã đến cư ngụ tại xứ Palestina. Quả vậy, vùng đất được dành cho những người hồi hương chỉ rộng khoảng vài chục dặm vuông xung quanh Jerusalem, nhỏ hơn rất nhiều so lãnh thổ vương quốc Judah thời phân li. Vì thế, chúng ta khó có thể nói rằng người Judah hồi hương đã khôi phục lại hoàn toàn đất đai của họ. Hơn thế nữa, họ còn phải chia sẻ mảnh đất nhỏ bé với hậu duệ của những người Israel không đi lưu đày vào năm 587BC, và cả những người ngoại quốc đã đến ở vùng núi Judah theo sau các chiến dịch quân sự của Babylon. Trong bối cảnh ấy, những xung đột và tranh chấp dưới nhiều hình thức đã xảy ra giữa những cư dân còn ở lại và những người mới trở về.

Tình trạng lại càng thêm phức tạp, do mâu thuẫn giữa những người hồi hương với nhóm cư dân pha tạp sống tại vùng núi Samaria ở phía bắc nhưng lại đang nắm quyền kiểm soát miền đất Judah. Nhóm cư dân tạm gọi là những người Samaria này là hậu duệ của những dân cùng đinh trong vương quốc Samaria bị bỏ lại và các sắc dân được đế chế Assyria đưa đến ở trong vùng. Họ có những lối thực hành tôn giáo tuy có thể gần gũi, nhưng cũng tồn tại nhiều khác biệt quan trọng với người Judah. Những người Samaria đó, theo quan điểm Judah, đã ra hư hỏng vì bị trộn lẫn với các dân tộc ngoại bang. Do đó, giữa những người Samaria và người Judah luôn có một mối căng thẳng. 

Người Judah kết án người Samaria, vì họ đã không duy trì được một đức tin tinh tuyền. Còn người Samaria thì lại cho rằng họ mới là những người thật sự trung thành với Luật Moses. Như chúng ta đọc trong sách Esdra, những người Samaria cũng muốn giúp tái thiết Đền Thờ Jerusalem nhưng những người Judah đã từ chối thiện chí của họ. Ở chiều ngược lại, những người Samaria cũng đã chống đối việc xây các bức tường thành Jerusalem. Mặt khác, tương quan của những người Judah với nhau cũng không phải là tương quan lí tưởng. Có những người Judah muốn giữ nguyên hiện trạng trong những lãnh vực khác nhau như chính trị xã hội, luân lí và tôn giáo, trong khi có những người lại muốn cải cách một cách sâu sắc trong mọi lĩnh vực.

Thứ đến, người Judah hồi hương lại gặp nhiều khó khăn trong việc sinh sống tại xứ Palestina. Tại lúc đó, Jerusalem và các thành phố lân cận vẫn còn trong tình trạng đổ nát, khiến việc kiếm sống của người dân cũng bị hạn chế rất nhiều. Vậy là hoá ra cuộc sống của những người hồi hương thực tế khác xa với viễn tượng về một xứ sở đầy phồn thịnh và tự do mà ngôn sứ Isaia Đệ Nhị từng hứa hẹn. Thời gian càng trôi đi, người Judah hồi hương càng thấy rằng những lời hứa hẹn đó sẽ còn ở xa tầm tay, và chúng ta có thể tưởng tượng được rằng đời sống của những người Judah hồi hương đầu tiên có thể là một chuỗi những thất vọng cay đắng. Khi đó, những ai tin vào lời hứa của Thiên Chúa hiểu ra rằng, dù đã quyết tâm sống theo Luật Moses, nhưng mong ước giữ vững đức tin vào Thiên Chúa của thế hệ họ cũng không dễ dàng hơn so với thế hệ cha ông họ chút nào.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\15.jpg

Cuối cùng, một khó khăn nữa của người Judah hồi hương là việc tái thiết Đền Thờ Jerusalem. Bản văn Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng người Judah đã tranh cãi rất nhiều và cũng đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tái thiết Đền Thờ. Một đàng, họ không có đủ thợ xây cất và thiếu nguồn tiền bạc, do đóng góp của người Judah không được nhiều lắm. Đàng khác, họ gặp phải sự kháng cự, chế nhạo và đe dọa của những dân lân cận, tức là những người Samaria và những người Ammon ở bên kia sông Jordan.

Những khó khăn kể trên bủa vây số sót ít ỏi của một dân tộc trở về từ nơi lưu đày, khiến cho vài người trong số họ đâm ra nản lòng mà lại một lần nữa lìa bỏ Lề Luật của cha ông. Thế nhưng, trong cơn khốn quẫn đến độ gần như lạc lối đó của dân Judah, đã xuất hiện hai nhân vật Nehemiah và Esdras. Hai ông đã nâng đỡ, sửa dạy và khuyến khích dân Israel kiên vững trong niềm tin vào Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Người.

5.VỮNG MÔT NIỀM TIN

Vào năm 444BC, Nehemiah được Artaxerxes I, hoàng đế Ba Tư, bổ nhiệm làm thống đốc Judah, Ông đi về miền đông đem theo chiếu chỉ của hoàng đế cho phép ông xây dựng lại tường thành Jerusalem, với chi phí được lấy từ kho tàng hoàng gia. Đồng thời, chỉ thị từ hoàng đế cũng cho phép Judah cũng được tách khỏi tỉnh Samaria để thành một tỉnh độc lập. Nehemiah làm thống đốc Judah trong vòng 12 năm (Nkm 5,14), sau đó ông trở lại làm quan trong triều đình Ba tư (Nkm 12,6).

Tuy nhiên, liền sau đó, Nehemiah thuyết phục hoàng đế cho ông trở lại Jerusalem, do tình trạng ở Jerusalem bắt đầu trở nên tồi tệ. Dân chúng Judah thời đó đang lần hồi nghiêng theo lối sống dễ dãi khi chấp nhận những cuộc hôn nhân dị chủng với dân ngoại xung quanh. Trong hoàn cảnh đó, Nehemiah đã tiến hành một cuộc cải cách nhằm vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa người Judah với dân ngoại. Nehemiah đã đề ra hai tiêu chuẩn cụ thể để được công nhận là người Judah: thứ nhất, người đó phải được cha mẹ là người Judah sinh ra, và thứ hai, người đó phải trung thành với Torah, bao gồm sự trợ giúp theo luật định dành cho cơ cấu phụng tự Đền Thờ. Nehemiah triệt để ngăn cấm hôn nhân dị chủng, dựa trên nền tảng của sách Đệ nhị luật (Nkm 13; Đnl 23,3). Tiếp nối Nehemiah, những năm về sau Esdras đã đưa ra những biện pháp còn cứng rắn hơn: ông không chỉ cấm hôn nhân dị chủng, mà những ai đã lấy người dân ngoại bị buộc phải phá vỡ cuộc hôn nhân đó (Er 10,2-5).

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\16.jpg

Esdras chính là người đã đẩy cuộc cải cách của Nehemiah đi xa hơn. Esdras hẳn là đã đến Jerusalem khoảng những năm 420BC, không phải với vai trò là thống đốc như Nehemiah, nhưng được hoàng đế Ba tư cử đến Jerusalem để thị sát các vấn đề tôn giáo. Quyền bính của Esdras cũng không chỉ bó hẹp ở Judah, mà bao trùm trên mọi người Judah sinh sống tại Palestina. Esdras được miêu tả như là “một kinh sư thông Luật Moses, mà Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel đã ban” (Er 7,6). Một trong những thứ quan trọng mà Esdras đem về từ Babylon là một bản sao của Sách Luật Moses, như Nkm 8,1 nói tới. Nghi thức công bố bản luật này được miêu tả trong Nkm 8,1-18, với đỉnh điểm là việc dân chúng xưng thú tội lỗi, quyết tâm tách mình khỏi dân ngoại, đồng thời long trọng cam kết sống trung thành với Lề Luật của Giao Ước Sinai (Nkm 9,1 – 10,40). Văn bản kết ước được các kỳ mục Judah kí kết và được mọi người thề hứa tuân theo, kẻ nào không tuân giữ sẽ bị nguyền rủa.

Chúng ta có thể nhận thấy rằng điều mà Ezekiel và Isaiah Đệ Nhị đã sửa dạy và khuyên răn dân Israel ở Babylon, cũng là điều mà Nehemiah đã chuẩn bị trong cuộc cải cách sơ khởi, lúc này đã được thực hiện hoàn chỉnh với nghi thức kết ước do Esdras đề xướng. Cách nào đó, kinh sư Esdras đáng được gọi là “người khai sinh ra Do Thái giáo”, vì bởi do ảnh hưởng của ông mà cuộc sống và tôn giáo của người Israel đã có một biến chuyển mới, trở nên dứt khoát hơn và bám sát hơn trong đức tin vào ĐỨC CHÚA. 

Người Do Thái tin rằng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, Đấng tín thành và giàu lòng thương xót, đã hứa ban một “miền đất tràn trề sữa và mật” (Ds 13, 27) cho cha ông họ, miền đất mà sau năm mươi năm họ bị lưu đày nơi đất khách quê người, lại là nơi họ trở về và sinh sống bình yên.

E:\ẢNH BÀI VIẾT\ẢNH 2022\SỰ SỤP ĐỔ VÀ HỒI SINH ISRAEL\17.jpg

VĨ THANH

Hồi sinh từ đống tro tàn, người Judah quyết tâm giữ vững đức tin của họ vào ĐỨC CHÚA của cha ông và xem đó như căn tính thâm sâu của dân tộc, không thể thoái hoá, không thể nhượng bộ, không thể chối bỏ. Sinh sống trong một đế chế Ba Tư khoan dung về tôn giáo, việc đó xem ra khá dễ dàng. Nhưng ba trăm năm sau thời hoàng đế Cyrus, thời thế đã đổi thay. Dân tộc Judah phải đối mặt với một gã bạo chúa điên cuồng mà họ khinh miệt gọi là Antiocho Epimanes (Antiocho Khùng) của nhà Seleucid. Lúc đó, dân tộc Judah sẽ phải chứng minh rằng đức tin mà họ tuyên xưng vào ĐỨC CHÚA thực sự là một thâm tín, chứ không phải chỉ là một lời chóp lưỡi đầu môi…

Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 10-2022

Tài liệu ham khảo 

-Kinh thánh trọn bộ, bản dịch 2011

-Phạm Hữu Quang – Dẫn nhập Thánh Kinh 

-Trần Minh Thực – Lịch sử Cứu độ

-Nguyễn Ngọc Rao – Lịch sử Dân Thiên Chúa trong Cựu Ước

-Herodotus – Lịch Sử

-Mortimer Chamber – Lịch sử văn minh Phương Tây

-Viện Smithsonian – Lịch sử thế giới, chân dung nhân loại theo dòng sự kiện

-John Keegan – Lịch sử chiến tranh

-Bernard Lewis – Lịch sử Trung Đông

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started