BA HỆ THỐNG PHÒNG THỦ CỦA ĐẾ CHẾ ROME

Theo sử gia Edward Luttwak, chúng ta có thể dựa vào sự thay đổi của các hệ thống phòng thủ của đế chế Rome để phân biệt ba giai đoạn chính trong sự thăng trầm của nó.

1.Hệ thống phòng thủ Julius-Claudius

Sự phân bố các quân đoàn Rome trong hệ thống phòng thủ Julius-Claudius

Đầu tiên là hệ thống Julius-Claudius. Tại đỉnh điểm của nó, chính quyền của Rome được thiết lập dựa trên sự thận trọng và nguyên tắc tiết kiệm lực lượng. Mặc dù quân đội của nó thời ấy là hùng mạnh nhất, chính quyền Rome đã dựa nhiều vào ngoại giao hơn là vũ lực để cai trị thế giới Địa Trung Hải. Trong hệ thống này, những quốc gia vệ tinh nằm xung quanh hạt nhân của đế chế tại bán đảo Italia đã từng rất ấn tượng bởi tính tổng thể trong sức mạnh của Rome, khi chứng kiến đế chế áp đặt các mệnh lệnh của nó mà không cần phải dùng đến những đạo quân chiếm đóng.

Gần ba mươi quân đoàn thiện chiến nhất thế giới cổ đại, được luân chuyển bằng hệ thống xa lộ tuyệt hảo toả khắp đế chế, luôn luôn sẵn sàng cho mọi loại nhiệm vụ. Qua các chiến thắng lẫy lừng như cuộc đàn áp Khởi nghĩa Iceni tại đảo Anh năm 61 hay Trận Jerusalem năm 70, Rome chứng tỏ nó luôn có đủ sức mạnh để can thiệp khi cần thiết, và điều đó đã buộc phần còn lại của thế giới Địa Trung Hải phải tôn trọng.

2.Hệ thống phòng thủ Antonine

Hệ thống pháo đài phòng ngự trên tuyến biên giới tây bắc đế chế dọc theo sông Rhine

Giai đoạn thứ hai gắn với hệ thống Antonine kéo dài từ đầu thế kỉ II cho đến giữa thế kỉ III. Lúc này Rome bắt đầu cảm thấy sự cần thiết phải triển khai quân của nó ngay cả trong các quốc gia vệ tinh, như ở Armenia và Dacia, để bảo đảm có sự trung thành của họ. Nguyên tắc tiết kiệm lực lượng đã bị bỏ mặc. Tuy nhiên, đế chế vẫn thịnh vượng, và việc Rome hoá các man tộc phía bắc đã cho phép đế chế tăng cường phạm vi ảnh hưởng văn hoá của nó.

Một đặc trưng của giai đoạn này là sự “lãnh thổ hoá” đế chế, mà công trình mang tính biểu tượng của nó là Trường thành Hadrianus ở biên giới đế chế tại miền bắc đảo Anh, cũng như hệ thống pháo đài được đặt theo hai con sông Rhine và Danube. Hai tuyến phòng ngự này đánh dấu cương thổ của đế chế ở phía bắc và tây bắc Âu châu. Cùng với Vạn Lý Trường Thành, chúng phần nào cho thấy một vài nét tương đồng trong tâm lý nghi kị và đối đầu của các đế chế nông nghiệp với các sắc dân nằm bên ngoài nền văn minh của họ. Thế nhưng, việc tạo lập các biên giới quá rõ ràng này hoá ra lại làm xảy ra những hệ quả tai hại ngoài mong muốn.

3.Biên giới siêu sắc tộc

Các tỉnh của đế chế Rome và các man tộc Germania

Các tuyến biên giới mang tính thù nghịch quá rõ ràng và cứng rắn đã tạo một sức ép khiến cho một số man tộc nhỏ thuộc thế kỉ I như người Frisii, Langobardi, Marcomanni, Cherusci và Chatti trải qua một quá trình được sử gia Peter Turchin gọi là “biên giới siêu sắc tộc” để liên hiệp lại thành các liên minh bộ lạc trong thế kỉ III và IV như Frank, Alamanni và Goth. Những dân tộc mới đông đảo và hùng mạnh đó rồi sẽ giáng đòn kết liễu cho một đế chế Rome đang ngày một xơ cứng và suy yếu.

Nếu chúng ta tính cuộc chinh phạt xứ Gaul của Caesar là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa người Rome và các dân tộc German, như vậy biên giới đế chế vẫn tương đối ổn định và ngày một gây ảnh hưởng đối với các bộ lạc German liên tục trong ba thế kỉ trước khi xuất hiện những thành quả của sự tương tác, đó là những liên minh bộ lạc lớn và hùng mạnh do các vị vua lãnh đạo. Người Alamanni sống ở vùng thượng lưu sông Rhine, xuất hiện lần đầu trong sử sách vào năm 231, người Goth ở hạ lưu Danube được nói đến từ năm 238. Người ta nhắc đến người Frank ở hạ lưu sông Rhine năm 257, người Saxon ở phía đông bắc lãnh thổ Frank được nhắc đến năm 286. Người Saxon ở “lằn ranh thứ hai”, không tiếp xúc trực tiếp với biên giới đế chế nhưng ở ngay sau lưng người Frank. Tương tự, người Vandal xuất hiện ở trung lưu Danube năm 270 và ở ngay sau lưng người Goth, còn người Brugundy sau người Alamanni.

Sự xuất hiện của các liên minh bộ lạc đó đã vô tình trùng khớp, hay có thể là đã bị kích thích bởi một giai đoạn nhiễu nhương trong đế chế sau vụ ám sát Hoàng đế Severus Alexander, người cuối cùng của hoàng tộc Severus. Trong gần nửa thế kỉ, những cuộc chiến tương tàn thảm khốc giữa các phe phái trong quân đội Rome nhằm đưa vị tướng soái của mình lên ngôi chí tôn đã xé nát đế chế ra thành nhiều mảnh. Để phục vụ tham vọng của mình, các tướng lãnh đã rút nhiều quân đoàn đang trấn giữ biên cương để ném vào cuộc nội chiến, và nhiều nhóm dân German đã lợi dụng tình hình đó để tràn qua biên giới đế chế. Người Frank đột kích sâu vào vùng Gaul. Người Alamanni xâm chiếm và định cư tại vùng đất phía tây sông Rhine. Người Goth bắt đầu cướp phá Balkans và Tiểu Á, hạ sát chính Hoàng đế Decius đến trấn áp họ vào năm 251.

4. Diocletianus và hệ thống phòng thủ thứ ba

Năm 284, quân đội tại Tiểu Á đã tôn Diocletianus, một tướng lĩnh người gốc Illyria, lên làm hoàng đế. Giai đoạn thứ ba của hệ thống phòng thủ đế chế Rome đã diễn ra dưới thời Hoàng đế Diocletianus với chiến lược “phòng thủ theo chiều sâu”. Khi đó các dân tộc vùng biên cương đã kết lại thành các liên minh hùng mạnh đủ sức thách thức Rome, vì thế Rome phải phòng thủ ở mọi nơi, với các đợt triển khai quân khẩn cấp không ngừng.

Hoàng đế Diocletianus nghĩ rằng các lãnh thổ mênh mông của đế chế sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu như có hơn một hoàng đế, nên vào năm 285 ông đã đưa thủ đô đế chế về Nicomedia ở Tiểu Á và đã đặt Maximianus làm đồng Hoàng đế cho mình ở phía tây, với thủ đô đặt ở Milan. Vào năm 293, để triệt tiêu điểm yếu chí tử của đế chế trong hệ thống kế ngôi, ông tạo ra vị trí caesar để phụ tá cho mình với quyền kế vị. Ông đặt Galerius làm caesar, đóng tại Thesalonia miền Thrace, làm phụ tá cho mình; đồng thời đặt Constantius Chlorus làm caesar cho Maximianus, đóng tại Trier, ngay trên biên giới sông Rhine. Quyền tối thượng của Tứ Chế Tetrarchy không bị phân chia mà nhân bốn: hai hoàng đế cùng thảo luật, hai caesar cùng thi hành; sự hiệp nhất trong đế chế vẫn tồn tại.

Do phải căng mình ra trên tất cả các đường biên giới, đế chế lúc đó không còn lượng quân dự trữ đủ lớn như trong hệ thống thứ hai để sẵn sàng tung ra trấn áp các lực lượng quân sự đối địch. Vì vậy Diocletianus đã xếp đặt lại hệ thống phòng thủ bằng cách áp dụng hệ thống hành chính hai tầng, với các thống đốc tỉnh bị mất quyền lực quân sự và các tỉnh bị sáp nhập thành 12 quân khu lớn: Britain, Gaul, Iberia, Italia, Africa, Illyria, Thrace, Macedonia, Asia, Pontus, Syria, Egypt; còn Rome là quân khu trung tâm.

Quân đội được tái cấu trúc theo cách bố trí phòng tuyến của Hoàng đế Gallienus (253-268), với các quân đoàn biến thành lực lượng Biên phòng Limitanei, phân bổ vào các pháo đài được củng cố rất mạnh trên các tuyến biên giới. Cơ động hỗ trợ cho chúng là các lực lượng tinh nhuệ nằm trực tiếp dưới quyền của các hoàng đế và phụ tá, Cấm quân Comitatus, lực lượng vũ trang dự bị chiến lược đầu tiên trên thế giới, một phát minh khác của Hoàng đế Gallienus. Đội quân đánh thuê người gốc German vào thời kì đó đã trở thành một bộ phận thường xuyên có mặt trong quân đội Rome. Tổng quân số trên toàn đế chế lúc đó lên khoảng 600,000 quân, gấp đôi so với thời Augustus.

Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 8-2022

Tài liệu tham khảo

-Robert Kaplan, Sự minh định của địa lý, Nxb Hội nhà văn, 2017

-Peter Turchin, Sự thăng trầm của các đế chế, Nxb Từ điển bách khoa, 2012

-Nigel Rodgers, Rome đế quốc hùng mạnh nhất, Nxb Phụ nữ, 2008

-Mortimer Chambers, Lịch sử văn minh Phương Tây, Nxb Văn hoá thông tin, 2004

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started