SPARTA, THÀNH QUỐC UY VŨ NHẤT

Dẫn nhập

Sparta, còn gọi là Lacedaemon, là thành quốc lớn mạnh nhất tiểu vùng Peloponnese trong thế giới Hi Lạp cổ đại. Sparta được xây dựng bên bờ sông Eurotas, và vì thung lũng Eurotas được bao bọc chung quanh bởi nhiều dãy núi cao như một thành luỹ tự nhiên, nên thành quốc rất khó bị xâm chiếm và tàn phá. Thành quốc Sparta vào lúc cực thịnh sở hữu diện tích đất đai khoảng 8500 km2, chiếm 2/5 bán đảo Peloponnese, rộng gấp ba lần vùng Attica của Athens.

Theo di chỉ khảo cổ, vùng Peloponnese thoạt tiên thuộc văn minh Mycenae, sau đó dân Dorians từ Macedonia tràn xuống lấn chiếm và định cư tại đây vào khoảng năm 900BC . Phiên bản thần thoại xem cuộc lấn đất này là lần trở về thành công của các hậu duệ Herakles. Về tên gọi của thành quốc, thần thoại giải thích: Lacedaemon, vị vua thứ năm trong 14 vị vua huyền sử Laconia, con của thần Zeus với tiên nữ Taygete, đã lấy Sparta, con thần sông Eurotas, rồi sinh ra ba đứa con. Khi lên ngôi, Lacedaemon lấy tên mình đặt cho tên nước rồi lấy tên vợ đặt cho tên thành quốc (để tiện việc trình bày và theo dõi, trong các phần còn lại của bài viết, người viết chỉ dùng tên gọi Sparta để chỉ thành quốc Lacedaemon-Sparta).

Bước chuyển tiếp từ huyền sử sang chính sử của thành quốc Sparta xảy ra vào khoảng đầu thế kỉ VIII BC, khi nhà lập hiến Lykourgos, tương truyền là sau khi đã thỉnh ý thần Apollo tại Delphi, đã soạn ra bản The great Rhetra (Tuyên ngôn vĩ đại) . Đó sẽ là nền tảng cho một cấu trúc xã hội, quân sự và quyền lực thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử cổ đại, góp phần trọng yếu cho vị thế nổi bật của thành quốc Sparta trong thế giới Hi Lạp.

Thế nhưng cái thành quốc bạo liệt đó, sau vô số chiến tích phi thường và nhiều năm tháng ngự trên đỉnh cao quyền lực, cuối cùng cũng đã dần dần suy yếu. Hầu hết nguyên do của tiến trình đó, hoá ra lại nằm ở việc Sparta thiếu đúng đắn khi tập trung toàn bộ tinh lực của thành quốc vào việc xiển dương cái sức mạnh cứng rắn của quyền lực quân sự. Nói theo lời Chúa Giêsu, là “tất cả những ai cầm gươm, sẽ chết vì gươm” (Mt 26, 52)

CHƯƠNG I: CUỘC CẢI CÁCH LYKOURGOS

Thung lũng sông Eurotas

Việc thành quốc Sparta nằm giữa các dãy núi của thung lũng sông Eurotas khiến một mặt cư dân tránh được sự công kích trực tiếp của các lân bang nhưng mặt khác lại khiến xã hội của họ hầu như bị tách biệt với các thành quốc Hi Lạp khác . Đã hiếm khi đi đây đi đó, họ lại còn thường tự khép mình trước những hoạt động trí tuệ mới như triết học hay sử học, mà những thành quốc Hi Lạp sau “Thời kì đen tối” đang bắt đầu theo đuổi. Sự biệt lập và bảo thủ của Sparta là do địa thế lẫn do tâm lý, và nó đã khiến cho người Sparta ở thời kì trước thế kỉ VIII BC, theo Herodotus, bị xem là “dân tộc được cai quản tệ nhất Hi Lạp, trong cả vấn đề nội bộ và trong quan hệ với những người bên ngoài vốn bị họ xa lánh” . Hầu như chỉ có một lần duy nhất trong lịch sử, Sparta đã dấn thân vào một cuộc cải cách sâu rộng của Lykourgos, khiếp sức sống của thành quốc đã có sự thay đổi mạnh mẽ và tạo ra nhiều hiệu quả hết sức lớn lao…

1.NHÀ LẬP PHÁP HUYỀN THOẠI

Theo sử gia Plutarch, Lykourgos là chú, giám hộ và thầy dạy của Charilaus (780BC-750BC), vị vua Sparta thứ mười lăm kể từ vua Lacedaemon. Tương truyền, ông đi chu du khắp nơi để nghiên cứu luật pháp và các định chế chính trị. Trước khi về Sparta, Lykourgos đến đền Delphi thỉnh ý thần Apollo về bản hiến pháp mới mà ông định thảo cho thành quốc, và theo Herodotus, ông được đồng cô Pythia chào đón bằng những lời sau đây khi đặt chân vào thánh địa:

Tượng nhà lập pháp Lykourgos tại Brussels

“Ngươi đã đến ngồi đền trù phú của ta, Lykourgos
Kẻ được Zeus và các thần linh cư trú trên Olympos yêu quý
Ta không biết liệu nên phán người là thần hay người
Nhưng ta thiên về việc tin ngươi là một vị thần, hỡi Lykourgos” .

Một số người nói là chính đồng cô đã chỉ dẫn cho ông những điều phải làm cho Sparta, nhưng một vài người Sparta lại làm chứng là Lykourgos đã mang những ý tưởng cải cách về từ Crete. Về đến quê hương, Lykourgos triệu tập 30 công dân danh giá nhất thành quốc để giúp ông soạn ra bản The great Rhetra (Tuyên ngôn vĩ đại). Trong bản luật pháp mới, Lykourgos thiết lập các định chế quân sự như Enomotiai và Syssitia, bên cạnh đó là các định chế mới cho chính quyền như Ephoreion và Gerousia . Sau khi đã lập nên tất cả những điều luật đó, Lykourgos buộc mọi công dân thề sẽ không thay đổi bất cứ điều gì trong đó trước khi ông từ đền Delphi trở về, sau khi thỉnh ý thần Apollo thêm một lần nữa. Khi được sự tán thành của đồng cô, ông tin là mình đã hoàn thành nhiệm vụ, và để buộc công dân Sparta phải giữ lời thề “sẽ không thay đổi bất cứ điều gì trong đó trước khi ông từ đền Delphi trở về”, ông quyết định tuyệt thực cho đến chết chứ không về lại quê hương .

Tuy nhiên, lý lịch thực sự của Lykourgos đã mù mờ ngay từ thời cổ đại. Theo Plutarch, nói về Lykourgos, “không ai có thể chắc chắn điều gì hết, từ gốc gác cho đến những cuộc du hành và cái chết của ông, ngay cả việc lập hiến và lập pháp của ông cũng là đầu mối của đủ thứ giai thoại khác nhau” . Các sử gia hiện đại hầu như chắc chắn về sự tồn tại của một người tên Lykourgos đã thực sự sống vào khoảng thế kỉ VIII BC, và khá nhiều người đã cho rằng rất có thể các nhà cải cách Sparta thế kỉ VII BC đã gán hệ thống của họ cho Lykourgos để nó mang dáng dấp và danh tiếng của một truyền thống cổ xưa (Để tiện trình bày, trong các phần tiếp theo, người viết sẽ vẫn gọi cuộc cải cách ở Sparta thế kỉ VII BC là “cuộc cải cách Lykourgos”). Dù sao đi nữa, với những cải tổ xã hội, quân sự, chính trị mới mẻ và hiệu quả, Sparta đã chuyển mình trở thành thành quốc Hi Lạp độc đáo nhất, mạnh mẽ nhất…

2.MỘT XÃ HỘI KÌ DỊ

Trong thành quốc Sparta mới, tất cả mọi công dân cũng như toàn thể xã hội đều được tổ chức nhằm phục vụ cho một mục đích cao nhất là quân sự quốc phòng. Chính quốc sách ưu binh đó đã làm cho Sparta có những phong tục xã hội khác thường, thậm chí có đôi điều thực sự đáng xếp vào loại độc nhất vô nhị tự cổ chí kim trong lịch sử nhân loại.

a.KẾT CẤU XÃ HỘI

Xã hội Sparta có đầy rẫy những điều kì quặc đối với chúng ta, thậm chí kể cả đối với những người cổ đại sống cùng thời với họ. Sau cuộc cải cách Lykourgos, nhìn theo bề ngang, xã hội Sparta gồm có bốn thị tộc lớn: Kynosoura, Limnaie, Mesoa và Pitana . Còn nhìn theo bề dọc, có một sự phân biệt rõ rệt giữa một bên là các công dân và các tầng lớp phi công dân.

Tầng lớp phi công dân bao gồm nhiều thành phần. Đầu tiên là nữ giới Sparta, những người không bao giờ có tư cách công dân, và trẻ nam Sparta, những người sẽ phải rất khó khăn mới có được. Thứ đến là các Perioikoi, các khách ngoại kiều nhưng có quyền tự do, thường được dùng làm quân dự bị, để chế tạo hay sửa chữa vũ khí, hoặc hoạt động trong các ngành thủ công và buôn bán.

Nhóm còn lại là các Helot, các nô lệ thuộc sở hữu nhà nước, có nguồn gốc từ các lân bang bị Sparta khuất phục. Dù đông gấp bảy lần công dân Sparta nhưng các Helot bị đối xử rất khắc nghiệt nên luôn là mối đe doạ bên trong cho Sparta. Không một lúc nào yên, người Sparta phải theo dõi các Helot, ám sát những kẻ có dấu hiệu khả nghi, và đối phó với những cuộc khởi nghĩa vũ trang cứ trở đi trở lại không dứt trong lịch sử của các Helot. Thậm chí có thể nói rằng: mối quan hệ tồi tệ với các Helot đã cầm chân những người Sparta, không cho họ vươn tới một nấc thang quyền lực cao hơn .

Các nô lệ Helot của Sparta

Về quyền tư hữu, khá ngạc nhiên là đất đai tại Sparta hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà nước, mỗi công dân sẽ được nhận một lô đất bằng nhau song không thể chuyển nhượng hay cầm cố. Lô đất được giao cho nô lệ nhà nước canh tác, hoa màu được chia cho nô lệ và chủ lô đất, dùng để chi trả cho các bữa ăn tập thể trong quân ngũ Phidition của các công dân .

Thoạt nhìn, việc ngự trị trên đỉnh thang xã hội là một đặc quyền khiến của các công dân Sparta được giải phóng khỏi các công việc đồng áng và thủ công, nhưng thực ra, làm một công dân Sparta không hề là một điều dễ dàng.

b.ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT HOMOIOI

Theo cải cách của Lykourgos, vượt lên hẳn các tầng lớp kể trên là các công dân Homoioi của Sparta, những người hoàn toàn giống nhau, ngang hàng với nhau (do sự bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ, điều kiện sống được đẩy tới mức tuyệt đối). Thế nhưng, để một người phái nam ở Sparta được công nhận là một công dân Sparta thì anh ta phải hội đủ tất cả các điều sau:

Các chiến binh Hi Lạp cổ đại

-thứ nhất, người đó phải có cả bố và mẹ là công dân Sparta, con hoang không có quyền công dân;

-thứ hai, người đó phải đã trải qua hệ thống huấn luyện thiếu niên Agoge khắc nghiệt từ 7 đến 20 tuổi;

-thứ ba, từ năm 20 tuổi người đó phải được bầu vào Hội ăn Phidition và trở thành thành viên của một Syssitia;

-thứ tư, miếng đất công mà người đó được giao phải sinh hoa lợi đủ để trả cho chi phí các Hội ăn Phidition .

Cuối cùng, khoảng năm 30 tuổi, họ mới được xét duyệt tư cách công dân trọn vẹn, và chỉ những ứng viên được nhất trí bầu chọn mới trở thành công dân Homoioi.

Một Homoioi Sparta

Như vậy, tới gần nửa đời người, sau 23 năm được đào tạo và phục vụ cho nhà nước Sparta, một người đàn ông Sparta mới có thể có quyền công dân trọn vẹn và được tham gia vào Hội đồng Quốc dân. Chỉ đó, họ mới được công nhận là một chiến binh Sparta đích thực, sẵn sàng ra trận bảo vệ thành quốc đồng thời cũng có nhiệm vụ kiềm chế giai cấp nô lệ . Thế nhưng quyền công dân của họ có thể bị tước bỏ lập tức nếu nếu tỏ ra hèn nhát nơi trận tiền. Điều này quả thật là không phải dễ khi ta biết một công dân chỉ hết tuổi quân dịch vào năm 60 tuổi . Phải trải qua đến năm mươi ba năm quân ngũ, quả thật, làm đàn ông Sparta có lẽ không hề dễ dàng, vậy còn làm một phụ nữ Sparta thì sao?

c.PHỤ NỮ VÀ GIA ĐÌNH

Phụ nữ Sparta cũng có một nếp sống mà những người Hi Lạp khác công nhận là khác thường. Ở thời điểm bảy tuổi, các bé gái cũng bị tách riêng ra theo các nhóm tuổi và trải qua một chế độ huấn luyện thể lực để trở thành các bà mẹ khoẻ mạnh về thể chất . Trẻ gái cũng như trẻ trai, đều phải cởi trần khi tập luyện và thi đấu trước sự chứng kiến của các cựu binh . Tuy vậy khi đến tuổi hôn nhân, các cô được về nhà, và kết hôn với các chiến binh trẻ vừa tròn 20 tuổi, nhưng chồng của các cô sau đó vẫn tiếp tục dành phần lớn thời gian cho việc huấn luyện quân ngũ trong doanh trại, cả ngày lẫn đêm .

Tranh “Study for Young Spartan Girls Challenging Boys” của Degas (1861)

Các chiến binh Sparta ít khi về nhà thăm vợ, và nếu hai vợ chồng không có con, người phụ nữ có thể có con với người khác không phải chồng mình. Theo Plutarch, người Sparta “chẳng thấy gì khác ngoài sự thô bỉ và phù phiếm trong những quy tắc tính dục của phần còn lại của nhân loại, những kẻ sẳn sàng cung cấp cho chó hoặc ngựa cái của họ những con giống tốt nhất mà họ có thể mượn hoặc thuê được, trong khi lại nhốt kĩ những người đàn bà và canh giữ cẩn mật để bảo đảm là họ chỉ sinh ra những đứa con của riêng mình, làm như đây là một đặc quyền thiêng liêng của người chồng cho dù anh ta bị đần độn, lão suy hay bệnh tật” . Phong tục này được cho là để bảo đảm cung cấp đủ nguồn nhân lực cho quân đội thành quốc và để tập trung lòng trung thành của mỗi người dân vào thành quốc chứ không phải cho các gia đình riêng lẻ .

Thế nhưng, triết gia Aristotle lại cho chúng ta biết rằng sự đồi bại phong hoá trong đời sống gia đình của người Sparta đến từ chính lối sống phóng túng của phụ nữ thành quốc này. Theo Aristotle, Lykourgos đã muốn dân cư của mình trở nên mạnh mẽ và điều độ nên cho áp dụng những luật lệ cứng rắn lên đàn ông, nhưng khi định bắt buộc các bà cũng phải tuân thủ luật lệ, ông đã bị họ chống đối dữ dội, nên đành để mặc cho phụ nữ Sparta sống phóng túng. Như vậy, có thể xem như ở Sparta có một nửa sống rất khắc khổ, nhưng nửa kia lại sống không có pháp luật gì .

Tranh “Spartan Women defending themeselves agaisnt the Messenians” của Jean Francois Jasques Le Barbier (1787)

d.MỘT ĐỊNH HƯỚNG LẦM LẪN

Như vậy, mục tiêu trọng tâm quốc gia định hướng thái quá vào quân sự của Sparta đã khiến thành quốc này có một cấu trúc xã hội chứa đựng nhiều xung đột nội tại và một phong hoá thực sự kì dị. Những xung đột đó là một phần sức mạnh của Sparta nhưng chúng cũng đã cương toả sự vươn lên để trở thành vĩ đại của thành quốc này, và về sau sẽ là một trong những nguồn cơn làm cho nó suy yếu. Còn những phong tục xã hội kì dị của người Sparta tuy có thể gây sốc cho nhiều người, nhưng kì lạ thay, lại được triết gia vĩ đại nhất cổ thời là Plato xem ra rất ủng hộ. Trong chương V triết phẩm kinh điển Cộng hoà của Plato, người ta đã phân tích những hình ảnh các nam nữ Vệ quốc và thấy chúng có chứa khá nhiều nét tương tự với các phong tục xã hội của người Sparta . Nhưng ít ra, các Vệ quốc của Plato còn được trau dồi học thức, còn các Homoioi của Sparta, từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, tất cả đều chỉ là sắt và máu của chiến binh.

3.HỆ THỐNG QUÂN SỰ HÙNG CƯỜNG

Sparta bị núi non vây quanh, không có lối trổ ra biển nên lựa chọn gần như duy nhất của Sparta là phải gây hấn với những thành bang chung quanh. Thế nhưng dân số những vùng đất bị Sparta khuất phục lại đông gấp nhiều lần dân số Sparta, khiến một ngày nào đó hẳn họ tổ chức một trận phục thù khủng khiếp. Thế nên sau cuộc cải cách của Lykourgos, các nguyên tắc tổ chức của toàn xã hội Sparta đều nhắm tới mục tiêu tối đa hoá sức mạnh lực lượng vũ trang của thành quốc để luôn mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn, hung hãn hơn hẳn hết thảy các láng giềng, hòng trấn áp được tất cả bọn họ.

a.RÈN NÊN MỘT CHIẾN BINH

Cho đến tận ngày nay, quá trình đào tạo quân sự quá sức khắc nghiệt của Sparta khiến họ vẫn được coi là một biểu tượng cực đoan của văn hoá ưu binh. Theo đó, người Sparta chỉ cho phép những đứa trẻ sơ sinh có thể chất mạnh khoẻ được sống sót, đứa bé nào sinh ra mà bị dị tật hoặc yếu ớt sẽ bị bỏ cho chết đói trong hang động trên núi . Khi vừa lên bảy, những đứa con trai trong tất cả các gia đình Sparta đều bị đem vào trong các hệ thống huấn luyện Agoge, sống tập trung trong các lớp đồng niên.

Tranh sơn dầu “Three Spartan Boys” của Chritoffer Wilhelm Eckersberg

Theo Plutarch, do yêu cầu cơ bản, chúng phải học đọc và viết, nhưng trên hết chúng được dạy để trở nên kỉ luật và kiên cường trong gian khổ và giành thắng lợi trên chiến trường. Vì lý do đó, các cựu binh bắt chúng cắt tóc ngắn, đi chân không và ở trần. Khi chúng lớn tuổi hơn, người Sparta càng gia tăng cường độ tập luyện. Đến năm mười hai tuổi, chúng không còn được mặc áo dài với thắt lưng bình thường nhưng mỗi năm được phát một tấm chiến bào. Thân thể các thiếu niên Sparta rắn chắc và không quen với những thói quen chăm bẳm cho cơ thể như thoa dầu olive. Chúng ngủ theo từng nhóm trên những chiếc giường tự làm lấy từ những cây cói mọc dọc theo bờ sông Erotas, nhưng phải nhổ cói bằng tay trần .

Tranh sơn dầu “A Spartan points out a drunken slave to his sons” của Fernand Sabbate

Để thử thách sự gan dạ và tài xoay xở của các thiếu niên, người ta yêu cầu chúng phải vượt qua được cuộc sát hạch chiến đấu và sinh tồn Krypteia để chuẩn bị cho nghiệp chiến binh : ăn cắp thực phẩm khi cần, đi đường mà không cần đến lương thực và nơi trú đêm, và cuối cùng, đi làm công tác cho cơ quan mật vụ chống các nô lệ Helot. Thực chất cơ quan này là một tổ chức sát nhân chính quy, thường xuyên đi tuần tra vào ban đêm để hạ sát bất cứ nô lệ nào có dấu hiệu bất phục tùng .

Đến tuổi hai mươi tuổi, thanh niên Sparta chuyển sang tuổi trưởng thành bằng cách cố gắng sao cho mình được bầu vào Hội ăn Phidition. Không được bầu vào đây nghĩa là trở thành người bị ruồng bỏ. Thành viên Hội ăn Phidition phải đóng góp một lượng cố định lúa mì, rượu nho và các nông sản khác mỗi năm . Theo Aristotle, các bữa ăn này tuy được tạo ra với ý định tạo nên một định chế bình đẳng cho mọi người nhưng hoá ra lại phản tác dụng, vì việc mỗi người phải góp phần của mình vào Phidition nói chung gây khó khăn cho người nghèo nhiều hơn, mà theo luật, ai không còn đủ sức góp phần vào Phidition thì sẽ mất quyền công dân .

Đàn ông Sparta có thể kết hôn năm hai mươi tuổi, nhưng họ vẫn phải tiếp tục sống trong các trại lính, ăn các bữa ăn Phidition và luyện tập với nhau hằng ngày trong Syssitia. Đây là một định chế do cuộc cải cách Lykourgos đề ra, gồm một nhóm 15 thiếu sinh quân ở chung với nhau để tập sống liên đới. Chính điều này giúp mang lại cho các chiến binh Sparta một tinh thần hiệp đồng trong chiến đấu rất cao . Bên cạnh tinh thần đồng đội, các công dân Sparta cũng rất coi trọng các giá trị quân sự như lòng dũng cảm, sự can trường và tính kỉ luật.

Hội ăn Phidition của người Sparta

Sau khi được bầu vào hàng ngũ các Homoioi, mặc dầu vị thế đã thay đổi nhưng quy định của thành quốc đối với mỗi người bọn họ vẫn như cũ. Họ vẫn tập luyện cho đến lúc mãn hạn quân dịch vào năm 60 tuổi. Ngoài các nhiệm vụ quốc phòng, họ cùng nhau trông chừng đám thanh thiếu niên, dạy cho chúng những điều hữu ích. Trên thực tế, việc huấn luyện của các chiến binh Sparta quá khắc nghiệt đến nỗi chiến trận được xem như một kì nghỉ, vì khi có chiến tranh, các sĩ quan mới buông lỏng những khía cạnh nghiêm ngặt nhất trong tập luyện và cho phép các chiến binh hưởng một chế độ nghỉ ngơi tự do hơn .

Theo lời Plutarch, khi những người mẹ Sparta tiễn con trai ra trận, họ đã nhắn nhủ rằng: “Hãy trở về với tấm khiên của con trên lưng, hoặc nằm trên chính tấm khiên đó” . Thế nhưng, với ít nhất hai mươi ba năm khổ luyện, khi được trang bị các chiến cụ thích hợp, một chiến binh Sparta có lẽ không phải là một kẻ mà ai cũng có thể đánh bại được.

b.VŨ TRANG CHO MỘT HOMOIOI

Mỗi Homoioi Sparta, ngoài sự gan lỳ và kĩ năng chiến đấu đỉnh cao được tôi luyện suốt cuộc đời, đều được trang bị giáp trụ và vũ khí vào hạng tối ưu so với mặt bằng chiến cụ thời bấy giờ. Đầu tiên, anh ta sẽ có một mũ trụ bộ binh kiểu corinth với phần bảo vệ hai bên má và gáy, cùng với một đầu mút nhỏ bảo vệ mũi, chỉ chừa đôi mắt và phần khe dưới của khuôn mặt lộ ra bên ngoài . Phần ngực và lưng được bọc trong hai tấm giáp đồng điếu đúc liền khối là hung giáp che ngực và bối giáp che lưng ghép lại với nhau bằng khớp, khoen và dây da. Phần cẳng tay cẳng chân của anh ta có thể được bảo vệ bởi các tiểu giáp cũng làm bằng đồng điếu, còn phần đùi đã được che bằng tấm khiên aspis.

Một chiến binh Sparta

Khiên aspis được phát minh vào khoảng thế kỉ VII BC. Nó có hình tròn, đường kính vào khoảng 76-91cm, uốn cong vào trong giúp bảo vệ cạnh sườn binh sĩ; nó có lõi làm bằng gỗ và được bọc ngoài bằng đồng, cùng một lớp da thuộc phía trong. Nặng khoảng tầm 8kg, trong đấu tay đôi, với khiên aspis, một chiến binh Sparta thừa sức đấm vỡ mặt đối thủ chỉ bằng một cú đấm trực diện đơn giản . Khiên được cầm bằng cách luồn cánh tay trái qua băng đeo porpax trung tâm, nắm phần tay cầm làm bằng dây thừng antilabe ở gần phía vành ngoài, do đó một nửa khiên nghiêng về phía trái, khiến cho hoplite phải trông cậy vào chiếc khiên của người bên phải để che chắn nửa cơ thể còn lại.

Vũ trang của một chiến binh Sparta

Phương trận của người Hi Lạp không cho phép các chiến binh chiến đấu tự do như múa kiếm; một thứ gì đó với lực đẩy mạnh mẽ sẽ phù hợp hơn. Bởi vậy mỗi chiến binh Sparta được trang bị một ngọn giáo dory mạnh mẽ, với mũi giáo được rèn bằng sắt và một đuôi giáo có mũi nhọn, làm đối trọng cho mũi giáo. Cả hai thứ được lắp vào cán gỗ tần bì dài từ 2 – 2,5m. Mũi giáo to và nặng của dory cung cấp một lực đâm khủng khiếp xuyên phá giáp trụ và da thịt đối phương, còn đuôi giáo bọc mũi nhọn bằng đồng cũng có khá nhiều công dụng. Chẳng hạn, các chiến binh Sparta có thể tạm dùng nó để chiến đấu khi mũi giáo bị gãy, hoặc có thể cắm nó xuống đất để tạo nên hàng rào chống kị binh đối phương, hay dùng nó để kết liễu nhanh gọn bất kì đối thủ bị thương nào đang nằm dưới chân mà không cần phải xoay mũi giáo lại.

Cuối cùng, mỗi chiến binh Sparta còn được trang bị một kiếm xiphos cán dày, lưới kiếm phình to về phía mũi nhằm làm tăng tối đa lực chém; hoặc họ sẽ sử dụng đoản đao kopis, với lưỡi chém cong và sống đao cùng phần lồi của cạnh sắc được thiết kế để thuận tiện cho việc xả đao từ trên xuống . Nhưng thật ra, để ép bằng được một chiến binh Sparta dùng đến các vũ khí cuối cùng này thì trước đó đối thủ phải phá cho được phương trận chiến đấu được tổ chức hết sức chặt chẽ của người Sparta, một điều cực kỳ khó khăn.

c.BÀI BINH BỐ TRẬN

Quân đội Sparta sau cải cách Lykourgos được xây dựng dựa trên cấu trúc xã hội bộ lạc sơ khai, trong đó những người xuất thân từ cùng một thị tộc hay cùng một khu vực sinh sống sẽ thuộc cùng một nhóm chiến đấu; ngoài ra, họ cũng được tập trung theo từng độ tuổi. Trong quân ngũ Sparta, cứ mỗi 35-40 người sẽ lập thành một đơn vị enomotiai, một định chế do cuộc cải cách Lykourgos đề ra. Bốn enomotiai thành một pentekostys, bốn pentekostys thành một lochos, tức khoảng 600 quân . Vào những thời điểm cực thịnh, Sparta thường duy trì được khoảng 15 lochos trong quân đội thành quốc. Ngoài ra, họ còn có 300 hippies, là lực lượng cận vệ của một trong hai vị vua được chọn làm chỉ huy trận chiến. Đây là những chiến binh xuất sắc nhất được chọn ra từ các họ tộc thế giá của thành quốc .

Cấu trúc các đơn vị quân đội Sparta

Điều khiển các đơn vị lớn nhỏ là hệ thống các sĩ quan Sparta được phân cấp rõ ràng để giúp cho việc ứng biến trên chiến trường được hiệu quả hơn, một điều không thường thấy ở quân đội các thành quốc Hi Lạp đương thời . Trên chiến trường, các chiến binh được dàn quân trong phương trận theo độ tuổi, với những người trẻ nhất đứng trước . Tuy phải đứng ở vị trí nguy hiểm nhất trong phương trận, nhưng các tân binh cũng không phải ghen tị bao nhiêu với những cựu binh đứng ở các hàng sau, vì người chỉ huy của một đơn vị quân đội Sparta luôn chiến đấu ở các hàng đầu cùng với các tân binh. Sử gia Thucydides đã mô tả điều đó khi ông nói có thể nhận ra các cấp đơn vị quân đội Sparta dựa vào y phục khác biệt của các cấp chỉ huy đừng hàng đầu .

d.BẤT TƯỜNG CHI KHÍ

Lão Tử nói “phù giai binh giả, bất tường chi khí”

Việc các chỉ huy chọn vị trí nguy hiểm nhất trên chiến trường chủ yếu phản ánh sức nặng của đạo lý chiến binh trong xã hội của Sparta. Mà quả thật, không ở đâu như Sparta, nơi sự quả cảm trên chiến trường là thước đo uy tín xã hội quan trọng nhất. Với một chiến tích oai hùng, phần thưởng cho một Homoioi Sparta sẽ là sự trọng vọng ở quê nhà, thêm vào đó là cơ hội để họ leo cao trên các bậc thang quyền lực của thành quốc. Thế nhưng, như Lão Tử nói, “phù giai binh giả, bất tường chi khí” (binh khí tốt là vật chẳng lành) , việc người Sparta để các quân nhân có vai trò quá lớn trong cấu trúc quyền lực thành quốc rồi đây sẽ đem đến sự bất ổn cho chính họ.

4.CÁC ĐỊNH CHẾ QUYỀN LỰC

Về chính trị, định chế nhà nước của Sparta do cuộc cải cách Lykourgos xác lập tập hợp trong nó bốn nhân tố bổ sung cho nhau: quân chủ, bá vương, đại tộc và dân chủ. Theo đó, thoạt nhìn Sparta là một thành quốc quân chủ, tuy rằng nó có tới hai vua thuộc hai dòng dõi con cháu Herakles, và do đó có cùng quyền trị vì. Nhưng nhìn kĩ, các nhà vua chỉ là Tổng tư lệnh quân đội Arkhagetai, chủ yếu nắm lãnh vực quân sự, còn quyền lực thực sự hầu hết nằm trong tay hai định chế khác là Hội đồng Giám quốc Ephoreion và Viện Trưởng Lão Gerousia, còn Đại hội Quốc dân Apella có chức năng khá hạn chế. Ta sẽ điểm qua từng nhân tố để hiểu rõ cấu trúc quyền lực của Sparta.

a.ARKHAGETAI, VƯƠNG SOÁI
Trước thế kỉ VII BC, Sparta từng có một thời kỳ do các vua basileis huyền sử cai trị. Bước chuyển tiếp từ Basileis sang Arkhagetai xảy ra sau hiến pháp của Lykourgos. Xuất phát từ arche (chỉ huy, điều khiển), Vương soái Arkhagetai là một từ dùng thay cho vua basileis, để chỉ hai vị vua Sparta đồng cai trị thành quốc. Hai Vương soái của Sparta thuộc hai dòng họ được xem là xuất phát từ Eurysthenes và Procles (con sinh đôi của Herakles, đã chinh phục vùng Laconia hai thế hệ sau Cuộc chiến thành Troy), họ không thể cưới hỏi lẫn nhau, và được chôn cất ở hai nơi khác nhau. Cả hai Vương soái đồng trị vì, và có quyền phủ quyết lẫn nhau .

Thực tế, quyền lực của hai Vương soái chủ yếu nằm ở các lãnh vực quân sự. Cả hai Vương soái Sparta đều có quyền tuyên chiến, nhưng khi ra trận, chỉ có một trong hai vua nắm giữ vai trò tổng tư lệnh, và ông ta sẽ luôn phải chiến đấu ở hàng đầu các đội hình phương trận. Vương soái cũng nắm khá nhiều quyền lực trong lãnh vực tôn giáo: là tư tế chính của thành quốc, giữ vai trò liên lạc với đền Delphi, và luôn là chủ toạ trong các Hội ăn Phidition. Bên cạnh đó, ông ta cũng có thẩm quyền trong các vấn đề tư pháp như xét xử các trường hợp thừa kế và hôn nhân của phụ nữ, kiểm soát các tuyến công lộ, cứu xét các trường hợp xin nhận con nuôi . Tuy nhiên, cùng với thời gian, mối quan hệ giữa hai dòng vua ngày càng tồi tệ, với các vụ tị hiềm, vu khống, lật đổ hay toan tính độc chiếm ngai vàng .

b.EPHOREION, HỘI ĐỒNG GIÁM QUỐC

Hội đồng Giám quốc Sparta

Hội đồng Giám quốc Sparta gồm có năm thành viên, được Đại hội Quốc dân bầu lên mỗi năm, và không thể được tái cử. Nguồn gốc của định chế Ephoreion này khá mập mờ. Theo Herodotus, nó có thể được tạo ra từ bản hiến pháp của Lykourgos, nhưng theo Plutarch, nó chỉ được thêm vào sau này. Triết gia Aristotle trong Chính trị luận đã cho rằng việc các giám quốc được toàn dân bầu ra từ các công dân không phải quý tộc khiến chức vụ đầy quyền lực này có thể rơi vào tay người nghèo, những người dễ xiêu lòng hơn trước của hối lộ. Nhưng theo ông, dù sao cách sắp xếp cấu trúc quyền lực khôn khéo này cũng đã giữ cho nền chính trị Sparta hoạt động thông suốt, vì hàng ngũ thứ dân cảm thấy hài lòng khi có thể có cơ may được dự phần vào cơ quan quyền lực cao nhất của thành quốc .

Khi nhậm chức, một trong số năm giám quốc được lấy tên làm niên hiệu cho năm dân sự, và năm người bọn họ sẽ tuyên thệ nhân danh thành quốc, trong khi hai Vương soái chỉ tuyên thệ nhân danh dòng họ. Mặc dù trong các văn kiện ngoại giao, tên các vị Vương soái luôn luôn được đưa lên hàng đầu, trong điều hành thực tế, quyền hành của Hội đồng Giám quốc lớn đến nỗi Aristotle đánh giá nó ngang với thứ quyền bá vương isotyrannos, vì được giả định là đại diện nhân dân, không thể bị kiểm soát hay khiếu tố .

Cụ thể, Hội đồng Giám quốc Sparta chịu các trách nhiệm đối nội như giám sát hai Vương soái và hoàng gia (sự hợp lệ của việc kế vị), công dân thành quốc (đặc biệt là tình trạng sức khoẻ tinh thần và vật chất của thanh niên); gìn giữ luật lệ và truyền thống, chủ trì các phiên họp, đề nghị dự luật và thi hành những quyết định của Đại hội quốc dân; điều tra, xét xử và trừng phạt các công chức bị truy tố (kể cả vua). Hằng năm, họ còn thay mặt thành quốc thực hiện một công việc kì quặc là đọc lại lời tuyên chiến với các Helot, theo đó, các Helot luôn bị xem như là kẻ thù chính thức của thành quốc và có thể bị hành quyết bất cứ lúc nào mà không cần qua xét xử . Về đối ngoại, Hội đồng Giám quốc nắm giữ quan hệ với các lân bang, tiếp đãi sứ giả, lấy những quyết định khẩn cấp về ngoại vụ, động viên, điều động quân đội .

Quyền lực của Hội đồng Giám quốc Sparta chỉ bị giới hạn bởi điều kiện thời gian: nhiệm kì duy nhất của một giám quốc là một năm và không thể được tái cử. Khi mãn nhiệm, các giám quốc khoá trước phải làm báo cáo cho các giám quốc khoá sau, và do đó, các cựu giám quốc có thể bị truy tố, xét xử và kể cả hành quyết nếu có tội bởi các giám quốc đương nhiệm . Tuy nhiên, việc các giám quốc có thể tuỳ tiện quyết định những việc hệ trọng của thành quốc theo ý riêng, cũng như có quyền sống một đời sống cá nhân đầy tự do phóng túng trong một năm, đôi khi cũng đã gây ra những xáo trộn đáng tiếc cho Sparta.

c.GEROUSIA, VIỆN TRƯỞNG LÃO

Viện Trưởng lão Sparta

Một định chế quyền lực khác của Sparta là Viện Trưởng lão, tương truyền cũng được thiết lập từ cuộc cải cách Lykourgos. Nó có 30 thành viên, gồm 28 vị trưởng lão từ 60 tuổi trở lên, đặt dưới sự chủ trì của hai Vương soái. Khi trong Viện Trưởng lão khuyết vị, nó sẽ được Đại hội Quốc dân bầu bằng thủ tục hoan hô. Trên nguyên tắc, mọi công dân đều có quyền ứng cử, nhưng trong thực tế, chỉ những người xuất thân từ các danh gia vọng tộc mới có hi vọng được bầu vào các vị trí quyền lực này. Do đó, thông thường các tân trưởng lão đều là thân nhân hay bằng hữu của các trưởng lão đương nhiệm .

Theo luật Sparta, các trưởng lão giữ chức vụ suốt đời và không phải báo cáo kết quả việc làm với một cấp chính quyền nào cao hơn. Tuy nhiên, Aristotle cho rằng việc tại chức mãn đời này là không hợp lý, vì trước hết, trí óc của một người sẽ lão suy trong những năm cuối đời, và thứ hai, điều này như tạo điều kiện để các trưởng lão nhận hối lộ và phân xử thiên vị mà không sợ bị trừng phạt .

Nhiệm vụ chính yếu của Viện Trưởng lão là chuẩn bị dự luật để Đại hội Quốc dân thông qua. Nhưng như một cách phòng xa đối với quyền lực quá mạnh của đại hội, Viện Trưởng lão cũng lại có quyền phủ quyết đại hội, với lý cớ “nhân tâm đã lầm lẫn”. Mặt khác, Viện Trưởng lão cũng được Hội đồng Giám quốc tham khảo trong việc diễn giải luật pháp. Về tư pháp, Viện Trưởng lão giữ vai trò của Toà án tối cao, có quyền quyết định về tính hợp pháp hay không của một văn bản hay quyết định, có quyền kết án và định hình phạt (giam giữ, tước quyền công dân, lưu đày, tử hình). Hợp nhất với Hội đồng Giám quốc, Viện Trưởng lão có cả quyền tài phán trong các cuộc tranh chấp ngôi Vương soái, và xét xử các Vương soái vì bất cứ tội trạng nào bị tố cáo. Muốn hoạt động hiệu quả, các Vương soái cũng như các giám quốc phải có một sự đồng thuận nhất định từ Viện Trưởng lão .

d.APELLA, ĐẠI HỘI QUỐC DÂN

Theo Plutarch, Đại hội Quốc dân của Sparta là tập hợp tất cả các Homoioi, nhưng quyền lực của nó là rất giới hạn. Đại hội Quốc dân được triệu tập mỗi tháng một lần vào đêm rằm, dưới sự điều khiển của cácVương soái. Vai trò của Đại hội Quốc dân không phải là để thảo luận các vấn đề thành quốc đang phải đối mặt, nhưng chỉ là để bác bỏ hoặc tán thành những dự luật hay đề nghị do Viện Trưởng lão đưa ra. Vậy mà khi Đại hội Quốc dân đã có nghị quyết, Viện Trưởng lão vẫn có thể vô hiệu hoá nó bằng quyền phủ quyết .

Dù là với thời gian, ở nhiều vấn đề thiết yếu (chiến tranh hay hoà bình, tranh chấp kế vị, chọn một vị vua cầm quân, xử lý nô lệ), ý kiến của đa số công dân có được tôn trọng hơn, nhưng việc thảo luận chủ yếu vẫn chỉ diễn ra ở cấp cao, giữa hai Vương soái cùng năm giám quốc và 28 vị trưởng lão. Nhiệm vụ quan trọng nhất hoàn toàn nằm trong tay của Đại hội Quốc dân là bầu chọn ra các giám quốc và trưởng lão. Họ sử dụng một thủ tục bị Aristotle chê ấu trĩ, là hoan hô lớn tiếng khi tên ứng viên được xướng lên. Khi cần có quyết định dứt khoát rõ ràng về một vấn đề hệ trọng, toàn đại hội đứng ra hai bên để đếm số người thuận hoặc chống .

e.MỘT QUYỀN LỰC CHẾ NGỰ TẤT CẢ

Người Sparta đã thiết kế ra một cấu trúc nhà nước trong đó không có bất kì thành phần nào dễ dàng nắm toàn bộ quyền lực. Nếu như quyền lực của Vương soái do dòng dõi mà có, thì nó lại bị gói gọn hầu như chỉ trong việc binh bị; các giám quốc có thực quyền rất to lớn nhưng lại chỉ có nhiệm kỳ một năm; còn hội đồng toàn dân tuy bầu ra các chức vị trong chính quyền nhưng lại chỉ có quyền lực phán quyết bị hạn chế nhiều. Tuy nhiên, xem xét kĩ ta thấy rằng chính Viện Trưởng Lão là định chế quyền lực cao nhất Sparta, do họ nắm giữ chức vụ trọn đời và có quyền phủ quyết chung cuộc. Đây chính là lý do khiến Sparta được nhiều học giả xếp vào loại hình chế độ đại tộc .

5.SUỶ NHUỆ BẤT TRƯỜNG

Lão Tử nói “sủy nhi nhuệ chi, bất khả trường bảo”

Dù quả thật một định chế nhà nước hoạt động hiệu quả và ổn định đã nâng sức mạnh thành quốc lên rất nhiều, những người Sparta đã để lại dấu ấn sâu đậm của họ trong lịch sử nhân loại không chỉ bằng những logic trong cấu trúc nhà nước, nhưng trước hết và trên hết, là bằng các chiến công vang dội của họ trên sa trường, đổi bằng muôn dòng máu nóng của các chiến binh. Thế nhưng, như Lão Tử đã nói, “suỷ nhi nhuệ chi, bất khả trường bảo” (mài cái gì quá sắc nhọn thì không giữ được lâu) , quả là một điều rất bất thường khi toàn bộ cơ cấu chính trị và xã hội của Sparta chỉ xiển dương một loại đức tính duy nhất của các chiến binh: lòng dũng cảm, sự can trường và tính kỉ luật. Lịch sử Sparta cho thấy rằng khi thành quốc này liên tục phải lâm chiến với các đối thủ trong ngoài bán đảo Hi Lạp, loại đức tính đó của các công dân giúp thành quốc Sparta duy trì sức mạnh và vị thế, nhưng khi đã có quyền lực trên các lân quốc rồi, thì họ lại thất bại trong việc bảo tồn nền hoà bình đó. Một lý do đơn giản cho éo le lịch sử này của Sparta, đó là vì người Sparta thực ra không biết làm gì với hoà bình mà họ có được, do trọn cuộc đời họ đã được huấn luyện chỉ để ra trận và giao tranh .

CHƯƠNG II: UY TRẤN QUẦN HÙNG

Sau khi Lykourgos qua đời, người Sparta dựng một ngôi đền và thờ cúng ông rất trang trọng . Rồi sau đó, như hoàn toàn có thể đoán được, với sức mạnh mới sở hữu, việc ở yên một chỗ trong thung lũng sông Eurotas không còn làm cho người Sparta hài lòng nữa. Bằng ý chí sắt đá và bản lãnh kiên cường, họ đã từng bước lấn áp các lân quốc và khiến cho các thành quốc khác trên bán đảo phải e sợ. Thế nhưng khi một cường địch của Hi Lạp xuất hiện ở phương đông, mọi chuyện đã thay đổi rất nhanh…

1.SỰ TRỖI DẬY CỦA SPARTA

Như người xưa đã nói, có công mài sắt mới có ngày nên kim, một định chế nhà nước dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu thì khi mới đưa vào áp dụng vẫn có sự bỡ ngỡ, và một quân đội dù có được tổ chức và huấn luyện tốt đến đâu, thì khi lần đầu xung trận cũng không sao tránh khỏi một vài thất bại. Sparta cũng vậy, nhưng nó đã vượt qua thời gian dập gãy và vươn lên rất nhanh.

A.NHỮNG NĂM THÁNG DẬP GÃY

Đầu tiên, người Sparta muốn tính sổ với đối thủ truyền kiếp trên bán đảo Peloponnese là người Arcadia. Họ hỏi dự ngôn giả Delphi về dự tính chinh phục toàn bộ Arcadia, và được trả lời như sau:

“Đòi ta Arcadia ư? Các ngươi đòi hỏi quá nhiều, ta từ chối.
Có rất nhiều người tại Arcadia,
tất cả đều ăn hạt sồi, chúng sẽ cản đường ngươi.
Nhưng ta không hận các ngươi,
ta sẽ ban Tegea làm nơi lai vãng cho các ngươi,
một đồng bằng đẹp đẽ,
để nhảy múa và đo đạc bằng dây.”

Các chiến binh Hi Lạp cổ đại

Mừng thầm, người Sparta bỏ mặc Arcadia và tiến quân tới Tegea với những chiếc xiềng trên tay, trông đợi sẽ nô dịch được người Tegea. Nhưng họ đã bại trận thảm hại, và nhục nhã thay, những người bị bắt làm tù binh buộc phải đem những chiếc xiềng mà họ đã mang theo .

Vào các năm 736BC-720BC, người Sparta tấn công thành quốc Messenia làng giềng và đã nô dịch hoá một phần dân cư ở đó. Sau một loạt các trận chiến cam go vào các năm 685BC-668BC, người Sparta thôn tính được toàn bộ đất đai người Messenia và biến bọn họ thành các Helot của Sparta . Khoảng năm 650BC, dân nô lệ Messenia cố nổi dậy nhưng đã bị người Sparta đàn áp dã man. Sau đó, vào hai thế kỉ VIII và VII BC, bằng các chiến thắng đẫm máu, Sparta đã lần lượt khuất phục nhiều thành quốc lân cận như Geronthrae, Pharis, Tegea. Từng thập kỉ trôi qua, với các chiến thắng lấn át quần hùng và nhất là cái sát khí luôn hừng hực toả ra trên chiến địa, cái tên Sparta trong tâm trí người dân Hi Lạp càng lúc càng đồng nghĩa với “bất khả chiến bại”. Đến năm khoảng năm 550BC, Sparta đã trở thành bá chủ hegemon của toàn bán đảo Peloponnese .

B.MINH CHỦ PELOPONNESE

Chiến thắng trên chiến trường, người Sparta lập giao ước bất bình đẳng với các thành quốc ở xa đã bị họ đánh bại, còn cư dân Messenia bị họ khống chế trở thành các Helot. Nhưng giao ước của Sparta với các thành quốc lân cận đã không khiến cư dân các thành quốc đó được tháp nhập vào cấu trúc xã hội Sparta.

Các thành quốc trên bán đảo
Peloponnese

Vào khoảng năm 546 BC, người Sparta đã thành lập Liên minh Peloponnese , bao gồm hầu hết các thành quốc địa phương, trừ Achaea và Argos, địch thủ chính của Sparta. Liên minh này là hình mẫu đầu tiên về việc liên minh các thành quốc trong thế giới Hi Lạp và là một trường hợp hiếm hoi dân Hi Lạp đã vượt qua được sự độc lập thông thường của nền chính trị thành quốc. Liên minh được lập ra trước hết nhằm xác lập chính thức vị thế bá chủ của Sparta tại Peloponnese, thứ đến là để bảo đảm an ninh cho bán đảo trước các thế lực khác ở Hi Lạp, ngoài ra đây còn là một tổ chức bảo thủ, nhằm bảo vệ các chế độ đại tộc chống lại các khuynh hướng bá vương hay dân chủ .

Liên minh dựa trên một cấu trúc gồm hai bộ phận là Quốc hội (chỉ Sparta có quyền triệu tập Liên minh) và Hội đồng Liên minh (trong đó mỗi thành quốc bất kì lớn nhỏ đều chỉ có một phiếu, nhưng Sparta cũng không bị bắt buộc phải thi hành mọi nghị quyết mà Hội đồng chọn lựa). Mặc dù không có lệ cống nạp thường niên, nhưng mỗi thành viên phải đóng góp tối thiểu 1/3 lực lượng vũ trang của thành quốc mình cho Liên minh khi xảy ra chiến tranh với bên ngoài. Trong Liên minh, mỗi thành viên chỉ cam kết với Sparta mà thôi, nên khi có vấn đề gì giữa các thành quốc thì họ phải cam kết riêng với nhau . Như vậy, với Liên minh Peloponnese, Sparta đã sở hữu một liên minh có nó là minh chủ và các thành viên, nhưng Sparta đã chưa bao giờ trở thành một đế chế hoàn chỉnh.

Sparta, minh chủ Liên minh Peloponnese năm 500BC

C.CHƯA TỪNG LÀ MỘT ĐẾ CHẾ

Sử gia Peter Turchin đã dùng trường hợp thành công của người Rome để lý giải cho thất bại của người Sparta trong việc gây dựng một đế chế. Ông cho rằng có hai yếu tố tối cần thiết cho việc hình thành đế chế Rome: asabiya hay mức độ hợp tác xã hội của người Rome, và tính phóng khoáng của họ trong việc hoà nhập với các dân tộc khác, vốn trước đó là kẻ thù đã bị họ đánh bại . Không có mức độ hợp tác cao giữa các thành phần trong xã hội, một đế chế non trẻ không thể tồn tại khi bị vây quanh bởi các dân tộc lân cận chống đối nhau trong cuộc chiến của tất cả chống lại tất cả mà Thomas Hobbes đã mô tả . Không có khả năng hoà nhập với những dân tộc bị chinh phục, một đế chế không thể lớn mạnh.

Trong suốt các thế kỉ V BC đến II BC, người Rome đã kiên định trong việc áp dụng chính sách thừa nhận và khôn khéo hội nhập các đối thủ sống sát bên mình. Dù sử dụng một hệ thống kết nạp và nâng cấp thành viên theo dự tính chia để trị, nhưng đến thế kỉ I BC, tất cả các cộng đồng dân cư trên bán đảo Italia đều nhận được quyền công dân Rome đầy đủ . Trong khi đó, người Sparta lại nô dịch hoá các cộng đồng dân cư lân cận như người Messenia, dù rằng cả Sparta và Messenia đều là người Hi Lạp và nói hai phương ngữ khá giống nhau của cùng một ngôn ngữ. Mối căng thẳng thường trực giữa người Sparta và các lân quốc vừa là nguồn sức mạnh cho thành quốc nhưng lại cũng là nguyên nhân cho việc nó chưa bao giờ là một đế chế trưởng thành.

Sparta, một thành quốc có asabiya rất
cao giữa các công dân

Thường xuyên trong tình trạng chiến tranh với các Helot và đa số các thành quốc lân cận đã duy trì một asabiya cao độ giữa những người Sparta. Nhưng trớ trêu thay, chính thái độ bất khoan dung và không cởi mở hợp tác của Sparta đối với các dân tộc bị họ đánh bại đã làm xói mòn khả năng mở rộng vững chắc cương thổ và nâng tầm quyền lực của chính họ. Vì lẽ đó, dù Sparta có một quân đội và ý chí bành trướng mạnh mẽ, nhưng họ đã không bao giờ thực sự mở rộng tầm ảnh hưởng của mình lên toàn bán đảo Hi Lạp ở một mức độ đủ mạnh mẽ và khôn khéo, để vừa thống ngự vừa sáp nhập các thành quốc lân cận vào xã hội Sparta .

Dù vậy, Sparta đã có một thời gian đứng ra lãnh đạo các thành quốc miền nam Hi Lạp để chống lại kẻ thù chung đến từ phương đông. Nhưng do là một sự chẳng đặng đừng, ở giai đoạn đầu, một số thành quốc Hi Lạp đã tỏ ý bất mãn về sự chỉ đạo của Sparta, cho đến khi họ được chứng kiến chiến công phi thường của Vương soái Leonidas và 300 hippies tại cửa ải Thermopylae, một chiến công khắc sâu cái tên Sparta vào lịch sử nhân loại…

Lạc Vũ Thái Bình – Mary D. Han
Huế – Sài Gòn, 11-2021

Thư mục tài liệu tham khảo (toàn bài)
1.Kinh Thánh (ấn bản 2011), Nhóm Các giờ kinh phụng vụ dịch, Tôn giáo, Hà Nội, 2019.
2.Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, bản dịch của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tôn giáo, 2018
3.ALLISON Graham, Định mệnh chiến tranh, Nguyễn Thế Phương dịch, Hà Nội, Hà Nội, 2019.
4.ARISTOTLE, Chính trị luận, Nông Duy Trường dịch, Thế giới, Hà Nội, 2014.
5.ARRIAN, Những cuộc chinh phạt của Alexander Đại đế, An Khánh dịch, Thế giới, Hà Nội, 2015.
6.CHAMBERS Mortimer, Lịch sử văn minh Phương Tây, không đề người dịch, Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2004.
7.CROSS Robin, Bách khoa toàn thư về chiến tranh, Thế Anh dịch, Văn hoá thông tin, TP.HCM, 2011.
8.DK và viện Smithsonian, Lịch sử quân sự, Nguyễn Minh dịch, Dân trí, Hà Nội, 2019.
9.DK và viện Smithsonian, Lịch sử thế giới, Lê Thị Oanh dịch, Dân trí, Hà Nội, 2017.
10.DURANT Will, Những anh hùng của lịch sử, Hoàng Đức Long dịch, Thế giới, Hà Nội, 2020.
11.GADDIS John Lewis, Luận về đại chiến lược, Quang Triệu dịch, Thế giới, Hà Nội, 2020.
12.GREENE Robert, 33 chiến lược chiến tranh, Nguyễn Thành Nhân dịch, Trẻ, Hà Nội, 2015.
13.HERODOTUS, Lịch Sử, Lê Đình Chi dịch, Thế giới, Hà Nội, 2019.
14.KEEGAN John, Lịch sử chiến tranh, Thiếu Khanh dịch, Lao động, Hà Nội, 2018.
15.KAPLAN Robert D., Sự minh định của địa lý, Đào Đình Bắc dịch, Hội nhà văn, 2017.
16.MAGNER Lois N., Lịch sử y học, Võ Văn Lượng dịch, Trẻ, Hà Nội, 2017.
17.MORICHÈRE Bernard, Triết học Tây Phương từ khởi thuỷ đến đương đại, Phan Quang Định dịch, Văn hoá thông tin, 2010.
18.O’BRYAN John, Biên niên sử các loại vũ khí, Voldy dịch, Thế giới, Hà Nội, 2017.
19.PHANXICO Đức Giáo Hoàng, Fratelli tutti, Lê Công Đức dịch, Tôn giáo, 2020.
20.PLATO, Cộng hoà, Đỗ Khánh Hoan dịch, Thế giới, Hà Nội, 2014.
21.PLATO, Đối thoại Socratic 1, Nguyễn Văn Khoa dịch và chú giải, Tri thức, Hà Nội, 2013.
22.PLUTARCH, Sự hưng thịnh và suy tàn của Athens, Bùi Thanh Châu dịch, Thế giới, Hà Nội, 2019.
23.QUANG Phạm Hữu, Dẫn nhập Thánh Kinh, Tôn giáo, Hà Nội, 2018.
24.RODGERS Nigel, Rome đế quốc hùng mạnh nhất, Hàn Thị Thu Vân dịch, Phụ nữ, 2008.
25.THUCYDIDES, Lịch sử chiến tranh Peloponnese, Takya Đỗ dịch, Thế giới, Hà Nội, 2017.
26.TOYNBEE Arnold J., Nghiên cứu lịch sử nhân loại, Việt Thư dịch, Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2008.
27.TUẤN Lý Minh, Lão Tử-Đạo đức kinh giải luận, Phương đông, TP.HCM, 2010.
28.TURCHIN Peter, Sự thăng trầm của các đế chế, Nguyễn Kim Dân dịch, Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2012.

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started