Ngày hôm sau trận Salamis, Themistocles tung ra dao ngôn là sẽ cho thuyền đi phá hủy cây cầu qua eo Hellespont. Quá hoảng sợ trước viễn cảnh bị mắc kẹt lại Âu châu, Xerxes đã hèn nhát tháo chạy sau khi để lại một đạo quân cho tướng Mardonius chặn hậu. Mùa hè năm sau, với một chiến thắng áp đảo mang tính hủy diệt tại Plataea, người Hy Lạp đã đặt dấu chấm hết cho tham vọng bá quyền của đế chế Ba Tư tại Tây Phương. Trong trận chiến hôm đó, người Athens đã nhất quyết đòi cho bằng được vị trí danh dự thứ hai trong hàng ngũ Hi Lạp, chỉ sau mỗi Sparta, với lý lẽ là họ đã có công lớn nhất trong trận đại thắng Salamis . Người Sparta cuối cùng cũng đã chấp nhận yêu sách đó, nhưng với những cái chau mày…

Nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong chiến thắng chung của người Hi Lạp, Athens mong muốn trở thành một trong những quyền lực hàng đầu của bán đảo. Nhận ra điều đó, Sparta vừa tìm cách khuyến dụ vừa ngầm chèn ép kẻ mới nổi này, nhưng Athens với nền dân chủ linh hoạt và những nhân tài của họ đã chứng tỏ mình là một đối thủ không dễ đối phó…
a.Athens đang lên
Trong hai năm 478BC-477BC, người Sparta đã cố gắng ngăn cản người Athens đang tái thiết thành phố của mình xây dựng một trường thành bao quanh thành chính và cảng Piraeus, nhưng đã không thành công. Với trường thành mới được xây, người Athens nghĩ rằng nó đã giúp họ thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của lục quân Sparta và sẽ được tự do thi triển bản lãnh hải chiến của họ, còn người Sparta xem nó là một dấu hiệu quan ngại của tham vọng đế quốc ở Athens, có khả năng đe doạ trật tự vốn có mà Sparta đã thiết lập .
Không hài lòng với việc giải phóng quê nhà, nhiều người Hi Lạp nghe theo lời thúc giục của Athens đã đẩy xa hơn nữa cuộc phản công với ý định giải phóng cả các thuộc địa Hi Lạp ở Ionia khỏi ách đô hộ của Ba Tư. Sau các vụ bê bối của vị tướng được Sparta cử làm lãnh đạo Liên minh Hi Lạp là Pausanias, Sparta đã đơn phương từ bỏ quyền lãnh đạo Liên minh , và Athens nhanh chóng thế chân vào vị trí đó. Người Athens đề xuất thành lập Liên minh Delos để theo đuổi cuộc chiến báo thù Ba Tư. Các chiến dịch phản công của người Hi Lạp, thường đăt dưới sự chỉ huy của tướng Cimon người Athens, cuối cùng đã khiến đế chế Ba Tư thoái chí nản lòng và chấp nhận kí kết Hoà ước Callias năm 449BC.
Thập niên 460BC, các cuộc nổi loạn của các Helot ở Messenia nổ ra liên tiếp khiến Sparta phải tập trung quân lực vào đó và đã không thể ngăn chặn thế lực ngày càng lớn mạnh của Athens. Bởi lẽ, ban đầu Athens được xem là thành quốc đứng đầu Liên minh Delos và sẽ quyết định các thành viên đóng góp bao nhiêu chiến thuyền và ngân sách, nhưng theo năm tháng, Liên minh Delos gần như trở thành một đế chế riêng của Athens . Những đòi hỏi quá đáng về ngân sách, sự thống trị về chiến lược và thương mại cũng như những cuộc can thiệp chính trị hòng áp đặt nền dân chủ theo kiểu Athens đã khiến cho trước hết là Corinth và sau là Thebai cùng nhiều thành quốc khác rời bỏ Liên minh Delos. Người Sparta theo dõi tất cả những điều ấy và bóp trán nghĩ ngợi…
b.Đòn nắn gân
Ở thời điểm đó, Sparta cùng với các lực lượng Liên minh Peloponnese có quân đội đông gấp đôi Liên minh Delos, thế nên hầu hết người Sparta vẫn tự tin vào vị thế bá chủ không thể tranh cãi của họ. Tuy nhiên, khi quyền lực người Athens ngày càng tăng, tư tưởng hiển nhiên nảy ra trong một chính quyền đầy rẫy những cựu binh như Sparta, là tổ chức một cuộc tấn công phủ đầu nhắm vào Athens để nhắc Hi Lạp nhớ ai mới là minh chủ . Thoạt trông thì quyết định này là hợp lý, nhưng việc quá mau mắn và lỗ mãng khi sử dụng sức mạnh phần cứng trong giải quyết mâu thuẫn, về lâu về dài sẽ gây nhiều hậu quả tai hại cho Sparta.
Chiến tranh Peloponnese lần thứ nhất bùng nổ năm 460BC, nhưng không gây quá nhiều tổn thất cho hai bên tham chiến. Năm 451BC, Sparta và Athens kí kết hiệp định đình chiến năm năm và đến năm 446BC thì kéo dài thành Hoà ước Ba mươi năm. Hoà ước công nhận sự chính đáng của cả hai Liên minh, các thành viên của một liên minh bị cấm đổi phe, và hai bên thiết lập một cơ chế giải quyết xung đột bằng đàm phán song phương với sự tham gian phán quyết của một bên thứ ba trung lập, thường là dự ngôn giả đền Delphi . Trong khi Hoà ước công nhận vị thế mới của Athens, người Sparta cũng cảm thấy yên tâm phần nào khi các thành quốc thân cận của nó như Corinth, Thebai, Megara đều có vị trí rất gần đồng bằng Attica của Athens. Về phía Athens, nó vẫn tiếp tục tiến trình bành trướng đế chế của mình khiến cho cuộc tái chiến là khó lòng tránh khỏi…
c.Mồi một ngọn lửa, đốt một cánh rừng
Tia lửa chiến tranh lại toé ra vào năm 435BC. Corinth, một đồng minh quan trọng của Sparta, đã có những hành vi khiêu khích một thuộc địa trung lập là Corcyra về khu định cư Epidamnus trên bở biển Albania ngày nay; quá hoảng sợ, Corcyra cầu cứu Athens . Mặc dù không thể so sánh với Athens, nhưng Corinth vẫn nắm trong tay hạm đội lớn thứ hai Hi Lạp, điều này khiến Athens đứng trước thế tiến thoái lưỡng nan. Trực tiếp hỗ trợ Corcyra sẽ đẩy Athens vào thế đối đầu đối đầu với Corinth, dẫn tới nguy cơ Hoà ước Ba mươi năm tan vỡ. Thế nhưng nếu không hành động, sẽ có khả năng Corinth chiếm được toàn bộ hạm đội Corcyra, khiến cán cân sức mạnh hải quân nghiêng về phe Liên minh Peloponnese .
Ở phía ngược lại, Sparta cũng phải đối mặt với thế lưỡng nan chiến lược tương tự. Nếu Sparta ủng hộ Corinth tấn công Corcyra, Athens sẽ có lý khi cho rằng Sparta có ý cân bằng năng lực hải quân, một điều làm tổn hại tới vị thế của Athens. Mặt khác, nếu Sparta giữ thế trung lập, điều này sẽ cho phép Athens thành một bên có tiếng nói quyết định trong các cuộc xung đột giữa các thành quốc và làm xói mòn uy tín minh chủ Hi Lạp của Sparta trong con mắt của các đồng minh trên bán đảo Peloponnese, tới lượt nó sẽ kích động sự nổi loạn của khối dân Helot trong khu vực kiểm soát của Sparta. Điều này rõ ràng là vượt quá lằn ranh đỏ của Sparta . Thế nhưng bất chấp lời cảnh cáo đanh thép của Corinth rằng bất kì sự trợ giúp nào cho Corcyra cũng sẽ dẫn tới một cuộc chiến lớn hơn, vào năm 443BC, Athens đã kí một hiệp ước liên minh với Corcyra và chiến đấu với đồng minh với trong cuộc hải chiến với Corinth .
Cùng năm đó cũng đã xảy ra vụ việc thứ hai dẫn tới Chiến tranh Peloponnese: cuộc xung đột tại Pontidae, một thuộc địa của Corinth nhưng lại là đồng minh phải cống nạp trong Liên minh Delos. Sau trận chiến ở Corcyra, Athens yêu cầu Pontidea san bằng một phần thành trì, giao nộp các kẻ phản bội Athens đang trú ngụ tại đó, và đuổi các quan chức do Corinth cử đến . Người Sparta yêu cầu Athens rút lại yêu sách của mình vì họ xem đó là một hành động không tôn trọng hệ thống mà Sparta đang dẫn dắt. Thế nhưng Athens lại cho rằng yêu cầu của Sparta là một hành động thách thức vì Pontidea nằm trong Liên minh Delos của họ, và họ cũng lo lắng rằng việc xuống nước sẽ khuyến khích Sparta mạnh dạn hơn trong các cuộc xung đột tương lai .
Trong một cuộc họp Liên minh Peloponnese, Corinth đe doạ sẽ rời bỏ Liên minh nếu Sparta không hành động cứng rắn hơn nữa, khiến cho hội đồng Ephoreion Hội đồng Giám quốc Ephoreion của Sparta thực sự lo sợ và đã phải đưa vấn đề ra cho Đại hội Quốc dân quyết định. Biết thừa những cái đầu nóng của Sparta muốn gì, nhưng giám quốc Sthennelaidas đã khéo léo yêu cầu Đại hội Quốc dân biểu quyết bằng hình thức toàn đại hội đứng ra hai bên để đếm số người thuận hoặc chống, vì ông muốn các Homoioi tuyên bố ý kiến của họ cách công khai, và nhờ vậy mà nâng cao tinh thần quyết chiến của họ. Đại hội Quốc dân Sparta đã quyết định tuyên chiến với Athens !
d.Kiêu căng và hoang tưởng
Homer và Herodotus thường viện những lý do huyền thoại và mông lung khi nói về nguyên nhân những cuộc chiến của người Hi Lạp. Nhưng khi sử gia Thucydides cắt nghĩa nguyên nhân cuộc chiến giữa hai liên minh do Sparta và Athens dẫn đầu, ông đã có một quan điểm thực tế hơn hẳn, và đã được lịch sử về sau chứng minh là sáng suốt và đúng đắn. Đến độ các sử gia sau này đã dùng chính tên ông để gọi tên tình thế địa chính trị đặc thù thường dẫn đến chiến tranh, như đã xảy ra giữa Sparta và Athens, là “bẫy Thucydides”.
Theo Thucydides, dù rằng hai sự kiện liên quan đến Corcyra và Pontidae đã trực tiếp dẫn đến cuộc chiến thảm khốc sẽ kéo dài tới ba mươi năm này, nhưng ông cho rằng, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến, là do “quyền lực Athens ngày càng lớn mạnh, và nỗi lo sợ mà quyền lực này khơi gợi ra với Sparta đã khiến chiến tranh là điều không thể tránh được” . Trong những năm tháng sau khi chiến thắng đế chế Ba Tư, Athens đã trở nên quá quyền lực còn Sparta trở nên quá nhạy cảm. Bằng cách ngăm cấm sự can thiệp vào vùng ảnh hưởng của mỗi bên, Hoà ước Ba mươi năm đã vô tình kích động một sự canh tranh giữa Athens và Sparta trong việc giành lấy ảnh hưởng trên các thành bang trung lập còn lại. Khi rủi ro từ những xung đột nhỏ ngày càng gia tăng, sự cương quyết của Athens đã khiến họ trở nên kiêu căng, và sự bất an của Sparta dần trở thành hoang tưởng. Sự tự tin của thế lực đang trỗi dậy tạo ra cho người Athens những tham vọng phi thực tế về những gì họ có thể làm và khuyến khích họ chấp nhận rủi ro, còn nỗi sợ hãi của kẻ đang đứng ở vị thế thống trị khiến người Sparta thường hiểu lầm các dấu hiệu và trầm trọng hoá các nguy hiểm .
Chiến tranh Peloponnese lần thứ hai giữa các thành quốc trên bán đảo Hi Lạp bùng nổ, tuy nó chỉ kéo dài vài thập niên, nhưng Hi Lạp sẽ phải mất tới hơn 2000 năm mới có thể tự nguyện tái lập sự thống nhất của mình…
Thư mục
THUCYDIDES, Lịch sử chiến tranh Peloponnese, Takya Đỗ dịch, Thế giới, Hà Nội, 2017
PLUTARCH, Sự hưng thịnh và suy tàn của Athens, Bùi Thanh Châu dịch, Thế giới, Hà Nội, 2019
Graham ALLISON, Định mệnh chiến tranh, Nguyễn Thế Phương dịch, Hà Nội, Hà Nội, 2019
DK và viện Smithsonian, Lịch sử thế giới, Lê Thị Oanh dịch, Dân trí, Hà Nội, 2017
John KEEGAN, Lịch sử chiến tranh, Thiếu Khanh dịch, Lao động, Hà Nội, 2018
PLATO, Đối thoại Socratic 1, Nguyễn Văn Khoa dịch và chú giải, Tri thức, Hà Nội, 2013
HERODOTUS, Lịch Sử, Lê Đình Chi dịch, Thế giới, Hà Nội, 2019
John Lewis GADDIS, Luận về đại chiến lược, Quang Triệu dịch, Thế giới, Hà Nội, 2020