BÀN VỀ BẢN CHẤT TÔN GIÁO
Liệu có thể có một con người, nghĩa là một hữu thể có khả năng ý thức về sự hiện hữu của bản thân, lại có thể suy nghĩ về cuộc sống mà không hề đặt câu hỏi về ý nghĩa đời sống của mình?
1.LIỆU CÓ THỂ CÓ MỘT Ý NGHĨA CHO CUỘC ĐỜI?

Câu trả lời đơn giản nhất cho vấn nạn vừa nêu có thể là “không”: cuộc sống này là vô nghĩa! Những người nói “không” này cho rằng các giải đáp của những người suy nghĩ khác họ là mơ hồ, là khó tin, là không chắc chắn. Trong thực tế, lựa chọn theo hướng này không phải không có lý của nó, bởi lẽ chính vấn nạn về đau khổ và sự dữ hiển nhiên trong đời sống khiến cho vấn đề “ý nghĩa” trở thành một nghịch lý nan giải.
Một câu trả lời thứ hai mới xuất hiện gần đây, khoanh vùng vấn nạn vào trong bình diện “thế tục”: vấn đề ý nghĩa cuộc sống là vấn đề của con người, hoàn toàn nằm trong trách nhiệm hoặc đời sống con người. Trong thế giới hiện nay, giải pháp “thế tục” phân thành hai hướng. Một hướng cho rằng ý nghĩa cuộc sống chủ yếu là vấn đề tương lai và hạnh phúc của toàn nhân loại, hệ tại ở việc nỗ lực loại trừ đau khổ, cải thiện đời sống, cố gắng xây dựng một thế giới tốt đẹp. Có thể nói đây là một thứ “tôn giáo” của các xã hội hiện đại, vừa vay mượn những ý niệm và lý tưởng tôn giáo như ‘phẩm giá con người’, ‘tình liên đới’, ‘sự viên mãn’… vừa loại trừ chiều kích tôn giáo ra khỏi xã hội. Hướng thứ hai cho rằng ý nghĩa cuộc sống hệ tại ở việc vui hưởng cuộc đời vắn vỏi này, bởi lẽ đó là cuộc sống duy nhất mà ta có được để sống và hưởng thụ. Ở một góc nhìn nào đó, tâm thức này cũng có thể xem là một “tôn giáo”, bởi lẽ những kẻ bằng lòng với những khoái cảm trần thế cũng mặc nhiên xem đó là chân phúc và tin rằng đó mới đúng là những điều đáng để con người bỏ công tìm kiếm.
Thế nhưng, ý nghĩa cuộc sống, ngoài hai câu trả lời trên, các tôn giáo đã cho chúng ta một câu trả lời “có”: nhìn nhận rằng hiện hữu của chúng ta có mối liên kết sâu xa với một thực tại siêu phàm và linh thiêng. Thực vậy, cảm thức của tôn giáo về ý nghĩa của hiện hữu là cảm thức về một đời sống được nâng đỡ, gìn giữ, hướng dẫn bởi một yếu tố siêu việt, và do đó, là đối tượng của tin kính và tôn thờ. Tuy nhiên, như đã nói, thế giới hiện đại cho thấy rằng nó nghi ngờ câu trả lời của các tôn giáo? Tại sao lại như vậy?
2.NHỮNG TRĂN TRỞ KHÔN NGUÔI VỀ HIỆN HỮU

Quả vậy, tuy nhìn nhận những câu trả lời lâu đời nhất về ý nghĩa cuộc sống xuất phát từ các tôn giáo, nhưng đối với nhiều người, câu trả lời đó không còn hiển nhiên như xưa nữa. Ở mặt khác, có vẻ như lời tiên báo của một số triết gia như Auguste Comte (1798-1857) hay Friedrich Nietzschev (1844-1900) về sự biến mất của các tôn giáo sắp thành hiện thực qua hiện tượng tục hoá.
Tuy nhiên, nếu nói tôn giáo đang mất đi tính hiển nhiên của nó, thì cũng cần lưu ý rằng con người hiện đại thường đánh giá mọi sự theo thước đo của tri thức thực nghiệm. Một thước đo như thế chắc chắn không đủ, thậm chí không thể dùng để đo lường tôn giáo, bởi lẽ một đàng, tôn giáo có nguồn gốc xa xưa hơn khoa học bội phần, và đằng khác nó bao hàm nhiều yếu tố khác như niềm tin, truyền thống, phụng tự… Bên cạnh việc sử dụng thước đo của thực nghiệm, sự trỗi dậy của ý thức lịch sử trơng hai thế kỉ gần đây cũng góp phần đưa tới quan điểm “tương đối” về tôn giáo: chưa bao giờ con người ý thức rõ về tính đa phức về giáo lý và nguồn gốc các tôn giáo như hiện nay. Hệ quả kéo theo là sứ điệp tôn giáo cũng bị tương đối hoá: làm sao khẳng định được chỉ có một Con Đường cứu độ đích thực nào đó mà thôi? Đàng khác, tuy ít lâu nay người ta nói nhiều đến “kinh nghiệm tôn giáo”, nhưng nó cũng chỉ được tính là một hình thái yếu của tri thức, nghĩa là chưa thực sự chắc chắn, bởi nó tuỳ thuộc vào sự tin tưởng, thậm chí chỉ là một thứ “cá cược” mà thôi, nói theo kiểu Pascal (1623-1662).
Rút cuộc, tôn giáo chỉ được nhìn nhận đánh giá trong khuôn khổ tri thức khoa học với cách tính toán đo lường của riêng khoa học. Hệ quả là, đối với một số người, tôn giáo được hiểu như là một giả thuyết có thể chấp nhận, vì thoả mãn một số nhu cầu nào đó, trong khi một số khác lại bác bỏ vì không phù hợp với những tiêu chuẩn khoa học. Như vậy, tôn giáo dần trở thành như chuyện riêng tư hay thuộc về “chủ quan”, tuỳ theo thị hiếu hay chọn lựa của mỗi người, trong khi tri thức “khách quan” thuộc về lãnh vực của khoa học, chỉ khoa học mà thôi. Để hiểu hơn về sự phân đôi này, ta cùng nhau trở về những ngày xưa tháng cũ để tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra.
Thực vậy, suy tư về hữu thể không phải là một vấn nạn của chỉ thời đương đại, mà nó đã là nỗi trăn trở của con người ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, trong đó đáng kể nhất phải nói đến thuyết Ý Niệm của triết gia Plato (427BC-347BC). Ông lý luận rằng điều hiển nhiên nhất nơi thực tại không phải là những gì mang tính khả giác, cá thể, hữu hạn, mà là “yếu tính” phổ quát và vĩnh hằng. Yếu tính này không phải là đặc tính chung trừu xuất từ các cá thể, ngược lại, nó là biểu lộ tròn đầy của hữu thể. Theo ông, các cá thể có thực hữu là nhờ tham dự phần nào vào yếu tính, và do đó thực hữu ở cấp độ thấp hơn yếu tính, nghĩa là chỉ có yếu tính mới là “hiển nhiên” còn cá thể thì là phản ánh mờ nhạt của yếu tính.
Tuy có vẻ kì quặc với con người ngày nay, nhưng học thuyết hữu thể học này của Plato là một trong những quan niệm chính yếu của tư tưởng Tây phương cho đến cuối thời Trung cổ. Chỉ vào cuối thế kỉ XIII, nó mới bị đặt lại vấn đề bởi các triết gia phái Duy danh, nổi bật nhất là William Occam (1287-1347). Có một điều khá nghịch lý là nguyên do phát sinh của tư tưởng hữu thể học mới này lại thuộc bình diện thần học: vì muốn bảo vệ tính toàn năng của Thiên Chúa nên người ta đi đến chỗ bác bỏ hiện hữu của các “yếu tính”. Nói cách khác, vì Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, nên Người có thể thay đổi bất cứ thứ gì nếu Người muốn, chẳng hạn có thể làm cho trái táo sinh ra từ cây chanh, mà nếu như thế thì theo Occam, các “yếu tính” chỉ là danh từ. Lý luận này chính là trọng tâm của học thuyết Duy danh.
Bị một số nhà thần học bác bỏ, vì quan điểm Duy danh không thể tương hợp với tín điều Sự biến đổi bản thể của Bí tích Thánh Thể, nhưng nó vẫn dần dần chiếm một vị trí ngày một quan trọng trong tư tưởng triết học cận đại. Theo đó, thực tại cá thể đặc thù trở thành thực tại nền tảng chứ không phải ý niệm hay yếu tính. Chính ở điểm này mà quan điểm Duy danh phù hợp với khoa học hiện đại: chỉ quan tâm đến những gì có thể nắm bắt, quan sát hay kiểm chứng được. Trong khi đó, các ý niệm hay yếu tính, vốn là đối tượng hàng đầu của tri thức truyền thống lại trở thành đáng ngờ, thứ yếu. Quan điểm Duy danh có sức tác hại đối với thế giới tinh thần nói chung và với tôn giáo nói riêng, bởi lẽ một đằng nó xoá mọi biên giới giữa hữu thể thần linh, nhân linh, vật chất, và đằng khác lấy tri thức khoa học làm thước đo, bất kể thuộc lãnh vực nào. Dưới sự lý giải của nó, niềm tin chỉ còn là lựa chọn cá nhân theo “chủ quan” của mỗi người, và Chân Thiên Mĩ cũng nhường chỗ lại cho những gì là “khả chứng” hay “hữu dụng”.
Dù như thế, các tôn giáo vẫn tiếp tục tồn tại, thậm chí vẫn đầy sức sống, và đó là sự kiện cần phải nhìn nhận khách quan. Hơn nữa, các chủ thuyết hay ý thức hệ muốn thay đổi chỗ đứng của tôn giáo lại ngày càng cho thấy rõ bản mặt thật của nó: địa ngục trần gian có thể tạo ra rất nhanh nhưng thiên đường hạ giới không xây dựng dễ dàng như người ta tưởng. Ở một khía cạnh khác, không phải cứ theo đuổi nghiệp nghiên cứu khoa học là một người đương nhiên chối bỏ hay chống đối tôn giáo, mà Albert Einstein là một trường hợp điển hình. Trong tác phẩm Thế giới trong mắt tôi, ông viết: “Tôi cho rằng, cảm thức tôn giáo mang chiều kích vũ trụ, là một trong những động lực mạnh nhất và cao quý nhất của nghiên cứu khoa học”.
Vậy nếu như không thể xét tôn giáo như một thực tại đối nghịch với khoa học, thì ta phải hiểu như thế nào về tôn giáo? Để trả lời câu hỏi hóc búa này, ta hãy thử cũng nhau đi tìm xem đâu là bản chất của tôn giáo.
3.BẢN CHẤT TÔN GIÁO NẰM Ở ĐÂU?

Tôn giáo chắc chắn là nơi của mọi thứ nghịch lý. Một đàng nó thường xuyên bị tố giác là một hình thái của sự vong thân, nhưng đàng khác lại được sống và hiểu như là lời hứa giải thoát. Vừa là ảo tưởng viển vông với một số người, nhưng tôn giáo lại là điểm tựa quý giá vững vàng cho một số khác. Một vài kẻ lên án tôn giáo là gốc rễ của mọi xung đột, mọi cuộc chiến, nhưng một vài người khác lại tôn vinh sứ điệp của tôn giáo về hoà bình, về tình huynh đệ, về tình bác ái. Một đàng người ta hô hào phải giới hạn tôn giáo trong phạm vi cá nhân, riêng tư, nhưng cũng chưa bao giờ các vấn đề tôn giáo lại được đề cập nhiều như ngày nay trong đời sống chung. Trước thực tế hiện tượng tôn giáo đang quá đỗi phức tạp, câu hỏi quan yếu cần phải đặt ra là: điều gì còn tồn tại hay trụ lại trong hiện tượng tôn giáo xuyên qua các hình thái hay biến thái của nó? Hiện nay, các học giả thường dùng hai lối giải thích chính về tôn giáo để bổ túc cho nhau, một lối gọi là duy chức năng, lối kia gọi là duy yếu tính.
Lối giải thích duy chức năng cho rằng tôn giáo hiện hữu vì nó thực hiện một chức năng nào đó trong đời sống của mỗi người hay của cả xã hội. Lối giải thích này rất phong phú nhưng tựu trung là giải thích theo nguyên nhân phát sinh, tức là giải thích hiện hữu của tôn giáo khởi đi từ một điều gì khác, xem đó như là nguyên nhân sâu xa của hiện tượng tôn giáo. Theo lối giải thích này, tôn giáo có thể mang chức năng “giải thích các hiện tượng tự nhiên” trong thời kì khoa học chưa có, hoặc có thể mang chức năng “giải thích các đòi buộc luân lý” theo hướng cắt nghĩa rằng đó là lệnh truyền của thần linh, hoặc có thể mang chức năng “giải thích một trật tự chính trị xã hội”, hoặc có thể mang chức năng “hoán chuyển tâm lý” như việc trình bày quan hệ phụ tử với thần linh là sự bù đắp cho một nhu cầu chưa được thoả mãn, hoặc có thể mang chức năng “xoa dịu tinh thần” khi con người đứng trước nỗi khắc khoải về cái chết.
Thực vậy, khó có thể chối bỏ mối liên hệ của những khía cạnh an ủi, phóng chiếu, biện minh đó của tôn giáo. Có thể nói đó là những yếu tố không thể xem thường đối với suy tư phê phán về tôn giáo, những yếu tố giúp tôn giáo phản tỉnh hay ý thức hơn về chính mình. Vì lẽ chiều kích phê phán không những là một chiều kích nội tại của tôn giáo, mà còn là một trong những nguồn chính yếu của ý thức phản tỉnh về mọi khía cạnh của đời sống con người: về sự tha hoá, về đau khổ, về tội lỗi, về sự dữ, hay về sự tự do, sự giải thoát. Vì thế, tôn giáo không chỉ là một sản phẩm của văn hoá hay một hình thái nào đó của ý thức cộng đồng. Đúng hơn, tôn giáo đi trước chúng, giúp hình thành nên chúng, đến mức có thể nói tôn giáo là cội nguồn lâu đời nhất của ý thức nhân loại. Vậy, đến lượt nó, tôn giáo hệ tại điều gì? Yếu tính của tôn giáo là gì?
4.CÁC CHIỀU KÍCH NỀN TẢNG CỦA TÔN GIÁO

Có hai chiều kích có thể xem là yếu tính và đặc trưng của tôn giáo, đó là Phụng tự và Niềm tin. Đối với tư tưởng hiện đại, yếu tố phụng tự, nghi lễ thường bị xem nhẹ. Chẳng hạn như Rousseau (1712-1778) và Kant (1724-1804) coi phượng tự nội tâm mới là phượng tự đích thực, còn nghi lễ bị họ xem là không cần thiết. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, ta thấy việc nhấn mạnh đến niềm tin xuất hiện khá muộn về sau.
Theo nhà nghiên cứu P. Gisel, thì “nền văn hoá Hi-La cổ đại thực sự không đặt ra vấn đề niềm tin. Tôn giáo của họ hệ tại mối tương quan với vũ trụ, và con người tôn giáo là con người biết sống khôn ngoan, chừng mực. Tôn giáo đó hệ tại chủ yếu ở việc thực hiện một số nghi lễ chứ không đòi hỏi niềm tin nào cả. Có khi mọi người đều phải thi hành một số nghi lễ nào đó, ngay cả khách ngoại kiều vãng lai, để tránh thiên tai hay dịch bệnh chẳng hạn.” Như vậy, theo P. Gisel, tôn giáo cổ đại nghiêng về phụng tự và bổn phận chung trong xã hội hơn là xác tín cá nhân. Thế nhưng, ngày nay khi nói về tôn giáo, người ta thường nghĩ đến niềm tin hơn là phụng tự, tới xác tín bên trong hơn hình thức bên ngoài. Trong “Thư về tinh thần khoan dung” viết năm 1689, Locke (1632-1704) viết: “Tất cả sự sống và sức mạnh của tôn giáo hệ tại ở xác tín trong tâm hồn.” Một ý tưởng như thế đối với chúng ta là bình thường, nhưng lại là điều mà một nhà tư tưởng Hi Lạp cổ đại không thể hiểu nổi.
Dù trong thực tế mỗi tôn giáo có thể nghiêng về yếu tố này hay yếu tố kia nhiều hơn, nhưng có thể nói rằng phụng tự và niềm tin là hai cấu tố chính của tôn giáo. Nói chung, các tôn giáo cổ xưa nặng về nghi thức trong khi các tôn giáo hiện đại nhấn mạnh về niềm tin, nhưng hai cấu tố chính này không loại trừ mà liên hệ mật thiết và bổ túc cho nhau. Tôn giáo, theo nghĩa là phụng tự trong niềm tin, bao hàm chiều kích Biểu tượng, tức là các hành vi nghi thức cử hành trong phụng tự không chỉ dừng lại ở cử chỉ hay dấu chỉ bên ngoài.
Từ Biểu tượng (symbole) bắt nguồn từ động từ symballein trong tiếng Hi Lạp, có nghĩa là kết nhập lại, vì thế biểu tượng có nghĩa là sự kết nhập giữa dữ kiện khả giác và ý nghĩa nó muốn nói lên, chẳng hạn như nước và ý nghĩa thanh tẩy. Vì thế, thế giới tôn giáo trước hết là thế giới symbole, nghĩa là muốn nói lên điều gì đó, và do đó là một thế giới biểu nghĩa. Chiều kích biểu tượng hay biểu nghĩa này của tôn giáo là điều hiện diện cách nào đó trong tâm trí của người tham dự. Chính ở điểm này mà phụng tự mở ra chiều kích tin, ngay cả khi người ta không muốn nhìn nhận chiều kích này nơi các nghi lễ trong các nền văn hoá cổ. Bởi nói cho cùng, làm sao có thể thực hiện một nghi lễ cho đúng nghĩa mà không có lòng tin hoặc không tin điều mình làm là có ý nghĩa hoặc đem lại ý nghĩa cho cuộc sống?
Do đó, tự trong bản chất của mình, tôn giáo là niềm tin-thờ, là phụng tự mang tính biểu tượng, hàm chứa niềm tin: thế giới này và cuộc sống này là có ý nghĩa!
Đối với quan điểm Duy danh, chức năng biểu tượng chẳng qua là công trình kiến trúc của tâm trí chúng ta, hoặc chỉ là sự phóng chiếu của trí óc, thêm vào kinh nghiệm thế giới vật chất. Thế nhưng, tôn giáo nhắc nhở chúng ta rằng thế giới sống của chúng ta không thuần tuý là thế giới “sự vật” vô nghĩa, vô tính, mà là một thế giới đầy dẫy dấu chỉ, đầy dẫy ý nghĩa. Đám mây đen báo cho biết cơn giống sắp đến, khuôn mặt ửng hồng là dấu của một nỗi e thẹn, hương thơm tiếng tốt mách cho ta về ai đó đáng kính đáng phục. Thế giới sống thực luôn mang chiều kích biểu nghĩa, và ý nghĩa không đơn thuần là do trí óc chúng ta tạo ra. Thực vậy, triết gia Paul Ricoeur (1913-2005) có lý khi cho rằng chính việc sống trong thế giới khiến con người có kinh nghiệm về ý nghĩa, và từ đó cảm nghiệm về “linh thánh”.
Có thể nói rằng, dù minh nhiên hay mặc nhiên, tôn giáo diễn tả cách sâu xa chiều kích biểu tượng của thực tại cũng như của cuộc sống. Thực tại có ý nghĩa chứ không phải chỉ đơn giản là cái bày ra trước mắt. Tôn giáo khai triển, nối kết ý nghĩa trong một toàn thể gắn bó, xuyên qua niềm tin và phụng tự của mình. Đây có lẽ chính là nét chính yếu phổ quát của tôn giáo.
5.MỘT CON ĐƯỜNG

Chúng ta có thể thấy tôn giáo nào cũng hàm chứa một niềm tin và một hướng đi căn bản, được diễn tả qua phụng tự, qua các biểu tượng. Nói cách khác, tôn giáo nào cũng giới thiệu cho con người một con đường để đi, một ý nghĩa để sống. Đối với tôn giáo, điều duy nhất đáng kể về thế giới hay tính hiển nhiên hàng đầu của thế giới này, là: thế giới này, cuộc sống này có một ý nghĩa, thậm chí đầy ý nghĩa. Nếu thế giới là vô nghĩa thì mọi suy tư cũng trở thành vô nghĩa.
Thật vậy, nếu tôn giáo chỉ đóng lại trong một vài chức năng nào đó thì sự mai một của tôn giáo sẽ là đương nhiên khi chức năng đó thành vô hiệu. Nhưng nếu hiểu tôn giáo như con đường tìm kiếm một ý nghĩa cho cuộc sống, một định hướng cho lịch sử, và một nỗ lực để mọi sự được hoàn tất cách có ý nghĩa, thì “cái chết của tôn giáo” cũng có thể là cái chết của những gì tốt đẹp nhất mà con người từng ôm ấp dựng xây. Nói khác đi, tôn giáo không phải là giới hạn mà một ngày kia con người có thể vượt qua hoặc bỏ lại đằng sau, nhưng đúng hơn, tôn giáo là một cõi miền trong đó mọi sự có thể được sống trong tất cả chiều cao sâu dài rộng nhất của nó.
Lạc Vũ Thái Bình
Huế, 9-2022
Tài liệu tham khảo
-Nguyễn Quốc Lâm – Triết học tôn giáo
-Bernard Morichere – Triết sử tây phương từ khởi thuỷ đến đương đại