THẬP TỰ QUÂN ĐẤU TRĂNG LƯỠI LIỀM

1. Ngoài cường địch trong rối ren

Trong thế kỉ XVII, nhờ việc phục hưng nội bộ và những thành quả của cuộc Phản Cải cách tại Đức và Pháp, Giáo Hội Công Giáo biểu hiện một sức sống phi thường về phương diện thiêng liêng. Những ý tưởng thời Trung Cổ vốn đã bị Cải cách làm lu mờ lại xuất hiện và được người ta tìm cách thích ứng vào những hoàn cảnh mới với nghị lực phi thường. Ý tưởng về Đạo binh Thánh giá đã nung nấu tâm hồn các vị lãnh đạo Công Giáo và công chúng sau khi đã phai nhạt khá nhiều vào các thế kỉ cuối thời Trung Cổ. Sau khi trải qua thời Cải cách như một thứ định mệnh, người ta trở lại với ý tưởng: những cuộc tấn công của quân Ottoman là hình phạt của Thiên Chúa.

Mười năm sau khi Constantinople thất thủ, lời hối thúc lên đường Thập tự chinh của Đức Giáo Hoàng Pius II (1458-1464) có vẻ như là một lời kêu gọi vô vọng. Trong thời kì ấy, mặc dù có những cuộc kháng cự anh dũng, quân Ottoman đã chiếm được Rhodes, khuất phục toàn miền Balkans, chiếm đóng Hungary, nhiều lần đe doạ Cracovie và cả Vienna bên bờ Danube. Với nhiều may rủi và nhờ sự viện trợ hời hợt của các ông hoàng Đức, hoàng đế tiếp tục chiến đấu chống lại đế chế Ottoman tại Hungary. Ngoài ra, Malta được các hiệp sĩ Cứu tế phòng thủ thành công chống lại các cuộc vây hãm của thuỷ quân Ottoman. Sau khi đế chế Ottoman áp đặt nền cai trị của mình lên dải bờ biển Bắc Phi, Địa Trung Hải hầu như trở thành hải vực của nó. Hơn nữa, nước Pháp lại từ lâu đã có những liên hệ và mối thân hữu với Ottoman. Hai bên muốn hợp công hoàng đế La Đức, Pháp thúc Ottoman tấn công trước rồi sẽ ngay lập tức mở mặt trận phía tây để phối hợp. Không còn dấu tích gì của một Tây Phương Kito giáo hiệp nhất nữa!

Châu Âu và Cận Đông, năm 1580. Trước đó 9 năm, Liên minh Công Giáo đã chiến thắng đế chế Ottoman trong trận hải chiến Lepant

2. Chiến thắng Lepant

Thế nhưng tình thế như vậy cũng không làm nản lòng Đức Giáo Hoàng Pius V, ngài hết sức nhẫn nại và cương trực liên kết nước Pháp với hoàng đế La-Đức, cùng với Ba Lan và cả nước Nga theo Chính Thống giáo nữa để thành lập Liên minh chống Ottoman. Nhưng mọi cố gắng đều vô ích vì ngài gặp khắp nơi những cái nhìn hẹp hòi về quyền lợi chính trị của mỗi quốc gia. Những cuộc thương nghị kéo dài rất lâu, sau cùng cũng đi đến một liên minh giữa Tây Ban Nha, Venice và Giáo Hoàng. Hiệp ước của Liên minh được long trọng công bố trong Đại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô tháng 5 năm 1571 và được coi như có giá trị lâu bền, cả khi hỗ trợ nhau phòng thủ lẫn hiệp đồng tấn công. Don Juan nước Áo, con của hoàng đế Carlos Quinto được trao quyền nguyên soái tối cao, còn vị đô đốc hải quân của Lãnh thổ Giáo Hoàng được đặt làm phó.

Để cầu khẩn ơn phù trợ của Thiên Chúa trên hải quân, Đức Giáo Hoàng Pius V công bố ơn toàn xá và truyền tổ chức những buổi cầu nguyện lần hạt Mân Côi trong toàn Giáo Hội. Ngày 7 tháng 10 năm 1571, trận chiến quyết liệt đã diễn ra trong vịnh Lepant, ngoài cửa eo biển Corinth. Hải quân Công Giáo đã đánh chìm khoảng 50 chiến thuyền địch, bắt sống một số còn lại và giải phóng mười hai nghìn tù binh chèo thuyền Công Giáo trong quân Ottoman. Chỉ một phần ba chiến thuyền Ottoman chạy thoát. Mười lăm ngày sau tin thắng trận mới về tới Rome. Trước khi khởi chiến, Đức Giáo Hoàng Pius V đã làm nhiều việc đền tội rất nghiêm nhặt để xin ơn thắng trận, và trong khi giao chiến, giữa lúc hội Mân Côi tổ chức rước kiệu tại Rome, ngài được thị kiến là đạo binh Công Giáo đã chiến thắng. Để kỉ niệm chiến thắng, Đức Giáo Hoàng ra chỉ thị lập lễ Đức Mẹ Toàn Thắng, mà sau này Đức Giáo Hoàng Gregorius XIII cho cử hành với tên là lễ Mân Côi vào Chúa nhật đầu tháng mười trong toàn thể Giáo Hội.

Châu Âu và Cận Đông, năm 1683. Khi đế chế Ottoman công hãm kinh thành Vienna của Áo

3. Một cơ hội bị đánh mất

Chiến thắng ở trận Hải chiến Lepant đã cứu nước Italia và Tây Ban Nha khỏi hoạ xâm lăng Ottoman, nhưng không đầy mười hai năm sau, chiến thắng ấy đã thành vô ích. Thay vì sửa soạn chiến lược quân sự hợp lý cho mùa chiến dịch năm tiếp theo để đập tan vĩnh viễn lực lượng quân địch như đã dự định trong hiệp ước, nước Tây Ban Nha và Venice lại có hục hặc với nhau, trong khi các ông hoàng Đức khước từ gia nhập Liên minh. Nước Pháp lại có một động thái bất ngờ là phái một đại sứ sang Constantinole để đứng ra làm trung gian giữa đế chế Ottoman và cộng hoà Venice nhằm tìm một hoà ước riêng rẽ giữa hai nước, theo đó Venice chấp nhận từ bỏ chủ quyền trên hòn đảo Chypre. Rõ ràng, chiến thắng Lepant đã bị bỏ lỡ, nếu không muốn nói là đã bị phản bội. Thế nhưng khi đó Đức Pius V cũng không còn sống để buồn khổ.

Dầu vậy, giữa dân Công Giáo, chiến thắng Lepant 07-10-1571 đã là ngày trọng đại đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử tôn sùng Đức Mẹ và góp phần vào công cuộc làn truyền mau chóng sự tôn sùng chuỗi Mân Côi. Kể từ năm 1572 người ta thấy xuất hiện rất nhiều bài ca chiến thắng, nhất là trong các đại học Dòng Tên. Nhiều bức vẽ hoạ hình Đức Mẹ chiến thắng Lepant được treo trong các thánh đường ở Đức và Venice, nhiều nhà nguyện đặc biệt xây cất để tôn sùng Đức Mẹ chiến thắng, và hơn một thế kỉ sau trận chiến, mẫu hình Lepant được chạm trổ trên những mặt nhật Thánh Thể làm theo nghệ thuật Baroque.

Chiến thắng Lepant năm 1571. Vị tướng mang giáp trụ vàng và chỏm mũ xanh là nguyên soái Don Juan của Liên minh Công Giáo đang đứng trên soái hạm Real của ông.

4. Ngọn thuỷ triều đen lại đang lên

Từ năm 1590, dân chúng trên toàn các lãnh thổ Công Giáo Đức phải nghe “tiếng chuông cho dân Thổ” vang lên mỗi ngày vào lúc chính ngọ, và hơn cả các nhà chính trị, họ cảm thấy sự nguy hiểm của mối đe doạ Ottoman. Một ít năm sau trận Lepant, quân Ottoman lại bắt đầu đánh phá. Họ dồn tất cả lực lượng về phía Crete, lãnh thổ cuối cùng của Venice ở vùng Đông Địa Trung Hải. Trận chiến kéo dài trong hai mươi năm, kết thúc bằng cuộc vây hãm thủ phủ hòn đảo. Dù chống trả kiên cường, nhưng cuối cùng hòn đảo cũng bị đánh chiếm hoàn toàn năm 1669. Những tiếp tế tài chính mà Toà thánh ban cho Venice, sự can thiệp của đoàn chiến thuyền Liên minh, tất cả những cuộc thương nghị giữa những ông hoàng Công Giáo cũng không thể cứu vãn được chiến bại cay đắng này. Châu Âu rùng mình khi biết mũi kiếm chinh phạt của đế chế Ottoman sau khi hạ xong Crete sẽ quay hướng về lục địa, sẽ rất sớm thôi.

Theo như dự tính thì Trung Âu sẽ là mục tiêu xâm lược tiếp theo của đế chế Ottoman. Biên giới không được chướng ngại thiên nhiên đáng kể nào che chắn của Balan là một mồi ngon cho quân địch. Thêm vào đó, sự kình chống nhau giữa những phe phái đã làm sức mạnh Balan suy yếu đi. Thành phố đầu tiên ở Podolie đã rơi vào tay quân địch.

5. Vị Áo Trắng thành Rome

Tân sứ thần Toà thánh là Bouonvisi đã tới Varsovie mang theo viện trợ của hoàng đế và các ông hoàng Đức. Ngài cũng cố gắng vận động chấm dứt những bất hoà nội bộ, và đã thành công. Quốc hội đại nghị đã từ chối công nhận hoà ước mà nhà vua đã kí kết với Ottoman. Kháng chiến quân sự được tổ chức. Sau khi nhà vua băng hà, Jan III Sobieski là người đã được đặc biệt để ý trong cuộc chiến chống Ottoman, đã được bầu làm vua với sự đồng ý của sứ thần Toà thánh và Pháp. Trong tình hình đó, phe chống hoàng đế không còn giữ tình thân hữu lâu nay với Sultan nữa. Tuy vậy, tới phiên tân vương cũng phải làm hoà với Ottoman và nhượng cho họ một vài lãnh thổ thuộc Balan.

Bất chấp tất cả những nỗ lực mà vua Louis XIV đã tung ra trước cuộc bầu cử của các Tuyển hầu, nhà vua cũng đã không thể ngăn chặn được sự bầu cử Leopold I thành hoàng đế mới của Thánh Chế La-Đức. Vì thế vua giúp đỡ quân phiến loạn Hungary là đồng mình với Ottoman, chiêu mộ quân lính trên lãnh thổ Balan để yểm trợ quân phiến loạn và cũng để khuyến dụ vua Balan hứa hỗ trợ quân phiến loạn. Năm 1679, vua Louis XIV kí hoà ước Nimegue, tung ra các chiêu đòn ngoại giao như hứa giúp Balan và Venice cách đặc biệt hòng làm tan vỡ các liên minh Balan-Nga và Balan-hoàng đế La Đức, nhưng các kế hoạch của Pháp đã thất bại.

Đức Giáo Hoàng Innocent XI được coi là một chiến lược gia tinh đời khi cho thuyên chuyển đại sứ tại Varsovie là Bouonvisi đến nhiệm sở mới Vienna. Ngài hiểu rằng hiệp ước Nimegue mà Pháp đang theo đuổi sẽ phá nát những kế hoạch phòng thủ chung của khối Kitô giáo. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau ngài buộc phải thừa nhận là đứng trước ảnh hưởng ưu thế mà Pháp được các ông hoàng Đức giành cho, ngài chỉ còn biết trông cậy vào hoàng đế, vào nước Balan và nước Nga Chính Thống giáo. Ngài sẽ hài lòng nếu được nước Pháp tuyên bố trung lập nếu có chiến tranh diễn ra giữa Liên minh và Ottoman chứ không thể mong gì hơn. Một bằng chứng cho sự khôn khéo của các sứ thần Toà thánh là họ đã tìm cách thuyết phục các thế lực ở châu Âu và đã đạt được một Liên minh chính thức giữa hoàng đế và Balan được kí kết vào lễ Phục Sinh năm 1683. Vấn đề tài trợ quân phí nếu quân Balan ra quân trợ chiến, trên thực tế do Toà thánh đảm nhận. Toà thánh sở hữu được một ngân sách ổn định nhờ vào việc đánh thuế lên các tài sản Giáo Hội ở Italia, Tây Ban Nha và các nước khác, thuế thừa kế, cũng như cho phép bán những tài sản kho tàng của Giáo Hội ngoại trừ các vật dụng thánh. Không có năm triệu florins do nội vụ Toà thánh gửi đến hoàng đế và vua Balan thì đã không thể có Liên minh.

6. Đại chiến dưới chân thành Vienna

Hussars, đoàn Kị binh bay Balan, xung trận vào sáng ngày 12.09.1683, giải vây cho kinh thành Vienna

Mà quả thật Liên minh đã được thành lập đúng lúc. Đầu năm 1683, miền Thượng Hungary rơi vào tay quân nổi loạn, và một lực lượng hùng mạnh 200,000 quân của đế chế Ottoman dưới quyền chỉ huy của Tổng lý đại thần Kara Mustafa đã tiến vào Belgrade. Liền sau khi quân Ottoman tuyên chiến với hoàng đế, thì quân Hungary ngả theo phía Ottoman. Quân đội Balan nghe tin gấp rút động viên nhưng chưa sẵn sàng để xuất quân tương trợ ngay được. Quân đội Thánh Chế La Đức có khoảng 30,000-40,000 người dưới quyền chỉ huy của em rể hoàng đế là công tước Charles de Lorraine đã phải rút về bảo vệ Vienna hầu ngăn chặn một cuộc công kích trực tiếp vào kinh thành đế chế. Triều đình Vienna chạy về Linz và Passau. Công tước Charles de Lorraine chia 10,000 quân cho lực lượng thủ thành của bá tước Ernest Rudiger von Starhemberg rồi ra đóng ở bên ngoài thành. Thị trưởng thành phố là bá tước Kollonitsch và giám mục Neustadt lưu lại toà thành bị vây hãm để cầm giữ sĩ khí cho quân đội và dân thành thêm can đảm chống giữ.

Đạo quân lưu thủ kinh đô đã anh dũng đứng vững trước các đợt xung phong, pháo kích và đặt mìn dưới chân thành của quân Ottoman trong gần ba tháng bị vây. Nhưng dù rất nỗ lực họ vẫn không thể đánh bật vòng vây của các đạo quân thù địch khát máu đang ngày một xiết chặt. Bất đắc dĩ, công tước Charles de Lorraine phải từ bỏ ý định dùng chiến thuật dương đông kích tây nhằm giải vây cho lực lượng thủ thành và đành thúc thủ đứng chờ quân tiếp viện. Trên toàn cõi nước Đức Công Giáo, bổn đạo đã sốt sắng tham gia cầu nguyện thống thiết cho nỗi khổ của dân chúng thành phố đang bị vây hãm. Sau cùng, quân Balan đã đến.

Đoàn tiếp viện gồm có những đội ngũ của các hoàng thân vương quốc, quân trù bị chiến lược và các quân đoàn Kị binh bay Balan lừng danh. Số lượng quân tăng viện là từ 40,000 đến 70,000 người. Ngay từ thời Đức Pius V, các tu sĩ dòng Capucins được giao phó nhiệm vụ tuyên uý cho các đội quân Công giáo, và vị đặc sứ Toà thánh đi cùng đội quân tăng viện là Marco d’Aviano. Lưu tâm đến sự nghiệp chung, sau khi được vị đặc sứ Toà thánh thuyết phục, công tước Charles de Lorraine đã trao quyền chỉ huy trưởng cho vua Balan Jan III Sobieski, người có nhiều tham vọng.

7.”Ngươi chỉ tới đây thôi, chứ không được tiến xa hơn nữa” (G 38, 11)

Ngày 12 tháng 9 năm 1683 được ấn định là ngày tổng phản công quân Ottoman. Đặc sứ Toà thánh Marco d’Aviano cử hành thánh lễ ngoài trời trên đồi Kahlenberg phía bắc thành Vienna, có vua Jan III Sobieski giúp lễ và nói lời hiệu triệu quân đội Liên minh Công Giáo. Ngay sau đó cuộc đại chiến nổ ra. Sau mười ba giờ chiến đấu ác liệt, tới sáng hôm sau, thành Vienna được giải vây thành công, còn đám tàn quân Ottoman rút lui về Hungary. Quân Công Giáo chiếm được rất nhiều chiến lợi phẩm. Lá quân kì của viên Tổng lý đại thần được đưa về trao cho Đức Giáo Hoàng Innocent XI vào đúng ngày lễ Tổng lãnh thiên thần Micael 29-9. Nó được treo nơi tiền đường Đại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô như một biểu tượng chiến thắng, sau đó, nó được đưa về lưu giữ trong Vương cung Thánh đường Santa Maria della Vittoria.

Quân đội Công Giáo đã lập nên chiến thắng vẻ vang đúng ngày thứ 30 sau lễ Đức Mẹ Lên Trời. Đức Giáo Hoàng đã cho phổ biến ngày đó cho toàn Giáo Hội làm ngày lễ kính thánh danh Đức Maria. Việc hành hương kính Đức Bà Phù Hộ tại đền thánh Đức Bà Hằng Cứu Giúp tại Vienna lôi cuốn rất nhiều người. Sự biến đổi từ tình trạng âu lo và khốn khổ của một dân tộc bị quân thù vây hãm và dịch bệnh đe doạ sang trạng thái hoan lạc được giải phóng nhờ chiến thắng kì diệu năm 1683, đó là hiện tượng đã đẩy mạnh trào lưu nghệ thuật Baroque, ít ra là trong các nước nói tiếng Đức.

8. Phản đòn

Tuy nhiên, cần phải khai thác chiến thắng năm 1683, biến đổi thế phòng thủ và kháng cự sang thế tấn công mãnh liệt. Chiến thắng đã vĩnh viễn loại bỏ mối hoạ bị xâm lăng từ Ottoman cho châu Âu và đã tạo ra một tình trạng hoàn toàn mới mẻ cho Hungary và các nước miền bắc Balkans. Công trạng ấy không những do sự anh dũng của quân đội và các nhà chỉ huy tài giỏi, mà còn do tài khôn khéo của các nhà ngoại giao Toà thánh và đặc biệt là do sự nhiệt tâm bất khuất của Đức Giáo Hoàng Innocent XI. Chính nhờ Đức Giáo Hoàng mà Venice chấp nhận gia nhập Liên minh. Chính nhờ ngài mà vua Jan III Sobieski đã trung thành với Liên minh, cho dẫu vua Pháp đã cho tiến quân vào phần Đất Thấp thuộc Tây Ban Nha trong thời gian quân Ottoman xâm lăng. Sự hăng say của Đức Giáo Hoàng đã chinh phục được lòng người mọi Kitô hữu trên toàn châu Âu. Dân chúng coi chiến tranh chống Ottoman như một cuộc chiến mới của các nghĩa binh Thánh giá.

Bản đồ bố trận của quân Áo và quân Ottoman trong trận Vienna năm 1683

Quân tình nguyện từ khắp châu Âu kéo đến gia nhập quân đội Thánh Chế La Đức, ngay cả từ nước Pháp, bất chấp sự ngăn cấm của vua Louis XIV. Đức Giáo Hoàng lại tiếp tục góp rất nhiều chiến thuyền và cung cấp quân lương.Mọi sự thành công mĩ mãn, chiến thắng hải quân của Venice vừa giúp bảo vệ Dalmatia vừa giúp chinh phục được gần phân nửa bán đảo Hi Lạp. Về phía lục quân, sau khi nhận được viện binh từ Bavaria và Brandenburg, quân đội hoàng đế vào năm 1688 đã tái chiếm được Buda.

9. Chiến trận giằng co

Thế nhưng bước tiến khải hoàn đã bị dừng lại. Năm 1688, vua Louis XIV tuyên chiến với hoàng đế. Từ nay hoàng đế bắt buộc phải chống đỡ cả hai mặt: mũi tấn công từ phía sông Rhine của nước Pháp và cuộc chiến đang giằng co tại bán đảo Balkans. Sau khi viên tướng chỉ huy trưởng quân đội hoàng gia là hoàng thân Eugene de Sarvoie đã chiến thắng tại Zenta, quân Ottoman phải kí hoà ước Carlowitz năm 1699, theo đó họ phải trả đất Transylvanie cũng như phần lớn Croatia và Slovenia cho hoàng đế và quần đảo Moree cho Venice.

Năm 1714, Ottoman lại khai chiến và chiếm đóng những lãnh thổ của Venice. Một liên minh quân sự mới đã được kí kết theo lời hiệu triệu của Đức Giáo Hoàng Clement XI (1700-1721), giữa hoàng đế và cộng hoà Venice, để tham chiến tại mặt trận Peterwardein chống lại đạo binh đông gấp đôi của địch. Nhưng với tài thao lược siêu quần, hoàng thân Eugene de Sarvoie đã toàn thắng. Quân Áo chiếm đóng vùng Banat, vượt qua sông Danube, chiếm lại thành Belgrade, tất cả các biến cố đó đã khiến dân Công Giáo vùng Balkans hết sức phấn khởi và làm cho họ hi vọng thoát được ách Ottoman. Nhiều phái đoàn đại diện dân chúng đến với các vị chỉ huy và triều đình, dâng thỉnh nguyện và yêu cầu được tham gia vào chiến cuộc. Nhưng họ đã bỏ lỡ dịp may đó.

Những rắc rối xảy đến trên bàn cờ chính trị châu Âu buộc hoàng đế phải chấm dứt chiến tranh. Với hoà ước Passarowitz năm 1718, quân Ottoman lại nhượng cho nước Áo vùng bắc Serbie. Tại đó, sự tự trị của Giáo Hội Chính Thống được bảo đảm nhờ vào rất nhiều đặc ân của hoàng gia, nhưng một toà giám mục Công Giáo cũng được thiết lập song song. Thật vậy, trong vòng hai mươi năm nữa, vùng Serbie sẽ lại bị mất. Nhưng dù sao, với những lãnh thổ đã chiếm được ở Italia và Bỉ trong cuộc chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, nước Áo đã giành được địa vị của một đại cường quốc Công Giáo. Chỉ tiếc là sức mạnh nội tại của Áo không hoàn toàn tương xứng với nhiệm vụ cai trị một lãnh thổ bao la, và thực tế là nó đã không thể kiến lập một chính thể quân chủ có cơ cấu được mọi thần dân trong đế chế tùng phục.

Hermann Tuchle, Tân lịch sử Giáo Hôi – tâp 3 ‘Cải cách và chống cải cách’, Nguyễn Khắc Xuyên dịch, 2002, tr 443-453.
Lạc Vũ Thái Bình hiệu đính.

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started