TRẬN CHIẾN ĐỊNH MỆNH CỦA ĐẾ CHẾ ROME

Chiến tranh Punic II (219-201BC)

Thất bại trong Chiến tranh Punic I và để quyền kiểm soát Sicily, Sardinia và Corsica lọt vào tay đế chế Rome, người Carthage tìm cách thiết lập những thuộc địa mới ở phía nam Iberia như bù vào chỗ thiệt của họ. Lo ngại sự bành trướng của Carthage, năm 226 BC, Rome cử một sứ đoàn tới gặp Hasdrubal, con rể của Hamilcar Barca và là tổng chỉ huy quân đội mới của Carthage để thỏa thuận về việc Carthage sẽ không tiến quân lên phía bắc sông Ebro, đổi lại, Rome hứa không đưa quân xuống phía nam dù đã thiết lập liên minh với các thành phía nam như Saguntum. Năm 221BC, Hasdrubal bị ám sát, hai năm sau, Hannibal, con trai Hamilcar Barca và là người kế nhiệm Hasdrubal tấn công Saguntum. Chiến tranh Punic II bùng nổ (219-201BC).

I. NHỮNG NĂM THÁNG CỦA HANNIBAL

Nhận thấy Rome có khả năng đang đưa một đạo quân tới Iberia và một đạo quân khác qua Sicily đến xâm lược Bắc Phi, ‘tiên hạ thủ vi cường’, Hannibal chủ động tiến công trước. Ông cùng 50000 bộ binh, 9000 kị binh và 37 voi chiến hành quân lên miền bắc Iberia, vượt dãy Pyrenees, đi xuyên qua miền nam Gaul và khiến Rome kinh ngạc khi vượt qua dãy Alps. Ông mất phân nửa số chiến binh dày dạn trận mạc của mình trong chuyến hành quân kinh khủng này. Vì Hannibal không để lại hồi kí nên ta không thể biết được động cơ đã đưa ông đến những cuộc hành quân đầy nguy hiểm này, rất có thể do hạm đội của ông ở Iberia không đủ sức giao chiến với hạm đội Rome, khiến con đường đi xuyên qua Địa Trung Hải trở thành bất khả.

Sự xuất hiện của ông đã kích động người Celt ở miền bắc Italia nổi loạn, và vào cuối năm 218BC, ông đánh bại một đạo quân Rome tại Trebia. Năm tiếp theo, ông đánh tan tác một lực lượng lớn khác của Rome tại hồ Trasimene, giết 15000 quân Rome, trong đó có một chấp chính quan. Trận thứ ba của ông, chiến thắng vẻ vang nhất, diễn ra tại Cannae năm 216BC, bộ binh giả vờ lui về trung tâm trong khi kị binh ở hai cánh đánh tan kị binh địch và hợp vây đội hình bộ binh Rome, tiêu diệt 50000 quân Rome.

Hannibal Barca

Không thể hạ thành Rome quá kiên cố dù đã cưỡi ngựa vòng quanh thành mà không quân đoàn Rome nào dám ra đối chiến, Hannibal quay ra đánh phá các vùng quê, chiếm phần lớn miền nam Italia và lôi kéo các đồng minh của Rome như Capua, Tarentum và Syracus theo mình. Thực hiện chính sách tiêu thổ của chấp chính quan Fabius Cuncator nhằm cắt bỏ mọi nguồn cung cấp cho Hannibal, Rome vô tình làm trầm trọng thêm vấn đề khi phá bỏ nhiều nông trại của người dân khiến nhiều người lâm vào cảnh vô gia cư.

II. CORNELIUS SCIPIO, ANH HÙNG PHI CHÂU.

Năm 211BC, Rome lập 25 quân đoàn mới và chuyển qua phản công. Với việc Hannibal gần như bị cầm chân ở ‘mũi giày’ phía nam, Rome bắt đầu loại dần các đồng minh của Carthage. Mục tiêu đầu tiên của họ là vua Macedonia Philip V, người đã tấn công Illyria năm 215BC và khơi mào chiến tranh Macedonia I (215-205BC) với Rome. Năm 211BC, Rome liên minh với Aetolia, trong đó Aetolia giao chiến với Macedonia trên đất liền, còn Rome mở các cuộc tấn công trên biển. Ở biển Adriatic, hạm đội Rome đóng tại Brindisi đã thực hiện nhiệm vụ canh phòng Macedonia hoàn hảo tới mức không người lính Hi Lạp nào có thể đặt chân lên Italia. Sau nhiều năm giao tranh, cuộc chiến kết thúc với kết quả bất phân thắng bại, và Hannibal đã không có thể có một đồng minh có thể hiệp đồng tác chiến với ông trên bán đảo Italia. Tại Iberia, Rome chiếm lại Saguntum năm 212BC, nhưng một thất bại trong năm kế tiếp với hai chấp chính quan thiệt mạng dường như đã đánh đổ vị thế của Rome ở bán đảo này.

Cornelius Scipio

Năm 209BC, Viện Nguyên Lão đã có một quyết định sáng suốt khi cử vị tướng 25 tuổi Cornelius Scipio đến Iberia và ông đã chiếm thủ phủ của Carthage tại bán đảo Iberia là thành Carthage Nova. Năm 207BC, em trai của Hannibal là Hasdrubal Barca cố gắng đưa quân tiếp viện cho anh trai. Chiến tranh đã kéo dài 10 năm, nếu các đơn vị của Hasdrubal hội sư được với đạo quân của Hannibal, lực lượng của họ có thể tạo ra bước ngoặc của trận chiến. Nhưng Hasdrubal đã bị Sipicio chận đứng lại ở miền bắc và đánh bại hoàn toàn tại sông Metaurus khiến Hannibal bị mất một lượng quân tăng viện đáng kể. Hannibal tuy đã đúng khi quyết định lật đổ Rome bằng cách tấn công vào trung tâm sức mạnh của nó ở Italia và làm tan rã liên bang quân sự vững chắc do nó đứng đầu. Để đạt được mục tiêu, người Carthage phải có một hậu cứ vững chắc và một đường giao thông an toàn. Căn cứ được cha con Hannibal thiết lập ở Iberia, còn đường giao thông thì không bao giờ có. Chỉ có hai con đường, một đường thẳng qua biển, một đường vòng qua xứ Gaul. Đường biển bị hạm đội Rome phong toả, còn đường kia đầy nguy hiểm, và sau khi Rome chiếm được miền bắc Tây Ban Nha, thì cũng bị ngăn chặn nốt. Chiến bại của Hannibal dường như là không thể tránh khỏi được.

Năm 204BC, nhiều đồng minh của Hannibal ở miền nam Italia bỏ rơi ông, và khi Sipicio đưa quân đổ bộ từ Sicily lên Utica sát kinh thành Carthage, Hannibal được triệu về để ngăn chặn mối đe dọa. Rome đưa ra các điều kiện nghị hòa tương đối dễ chịu nhưng Carthage từ chối, nên Sipicio lần lượt hạ từng thành ngoại vi của đối thủ. Được sự hỗ trợ của hoàng tử Numidia là Masinissa, Sipicio đánh bại đội quân cuối cùng của Hannibal tại Zama năm 202BC (cùng năm với trận Cai Hạ bên Tàu). Sau chiến công vĩ đại của Sipicio, Viện Nguyên Lão đã ban tặng cho ông danh hiệu “Africanus”. Chiến tranh Punic II hao người tốn của cuối cùng cũng đã chấm dứt với một chiến thắng, nhưng người Rome sẽ phải trả cho nó một cái giá rất lớn sau này.

III. CÁC VẾT THƯƠNG NGẤM ĐỘC CỦA ROME

Bằng những chiến thắng đẫm máu tàn sát rất nhiều công dân Rome, Hannibal đã chỉ ra rằng Rome sẽ không bao giờ đi xa được nếu chinh phục chỉ bằng xương máu công dân gốc của mình và nắm giữ quyền lực cho riêng mình, mà phải mở rộng cửa vào Rome hơn nữa cho mọi người. Điều này có cái hay mà cũng có cái dở. Cái hay là lực lượng chiến đấu bây giờ đã dồi dào hơn, nhưng cùng với nó là những phẩm chất mà Rome tự hào về các công dân của mình: kỉ luật, trung thành, dũng cảm, trọng danh dự và yêu nước, lại đi xuống. Tiến trình mở rộng và pha loãng này tiếp tục trong các thế kỷ sau cho đến khi hoàng đế Caracalla ban quyền công dân Rome cho mọi người tự do trong đế quốc vào năm 212.

Trước chiến tranh Punic II, Rome chiến đấu với các thành bang đối thủ trên bán đảo Italia bằng chính các công dân mình, và công dân Rome thời ấy, hẳn nhiên chỉ sống chủ yếu ở Rome. Nhưng khác với kiểu chiến tranh của những người du mục, người thắng hoặc giết sạch hoặc đuổi kẻ bại trận đi nơi khác, Rome là một đế quốc thuộc nền văn minh nông nghiệp, nên nó tìm cách hấp thu các kẻ chiến bại của mình. Người Rome chia các thành bang ở Italia thành ba hạng, chính họ là hạng thứ nhất và mọi công dân gốc Rome đều có quyền công dân toàn diện. Các thành bang cùng chủng tộc là hạng hai, ‘latin’, với công dân có quyền ‘civitas sine suffragio’, được hưởng những quyền lợi như công dân Rome trừ quyền bầu cử, nhưng nếu họ đến định cư tại Rome, họ sẽ trở thành công dân Rome. Những thành bang loại này giữ chế độ tự trị, bầu các quan hành chính địa phương riêng, nhưng phải cung cấp lính và chiến đấu dưới sự chỉ huy của các tướng lãnh Rome. Các thành bang ngoại tộc như Samnites là hạng ba, ‘socii’, đồng minh gắn bó với Rome bằng các hiệp ước song phương, họ mất quyền kiểm soát ngoại vụ và quân sự, nhưng được bán tự trị.

Các chiến thắng của Hannibal đã cho thấy hiệp ước Rome ký kết với các thành bang đồng minh có giá trị đến đâu và Rome phải ra cái giá mới nào để giữ chặt lòng trung thành của các đồng minh trong những cuộc chiến tương lai của một đế quốc đang không ngừng bành trướng; đó sẽ là một cái giá không hề rẻ. Sau những cuộc chiến tranh Punic, khi mở rộng ra khắp Địa Trung Hải, Rome đã lập một hệ thống liên kết các đô thị tương tự như ở quê nhà. Bắt đầu từ một ‘civitas’-những khu định cư thành thị, cùng với thời gian, tuỳ theo mức độ trung thành và hữu ích, một đô thị thành một ‘colonia’-thuộc địa, rồi lên ‘municipia’ với quyền ‘latin’, và cuối cùng là một thủ phủ vùng với toàn bộ dân cư được hưởng trọn quyền công dân Rome. Rome muốn hoà đồng nhưng cuối cùng nó đã bị hoà tan. Về mặt tổ chức hành chính, ở đỉnh cao của nó, đế chế Rome gồm gần 1000 thành bang liên kết với thành bang hùng mạnh nhất là chính Rome, nhưng ở hai thế kỷ cuối của nó, Rome chỉ còn cái danh thủ đô, còn các trung tâm hành chính-quân sự đều nằm ở vùng biên đế quốc: London, Lyon, Milan, Trier, Ravenna, Nicomedia, Thessalonica, Antiochia, Alexandria, Constantinopolis; cái seri này cùng nhau chống các cánh quân man di nhưng đôi khi cũng hăng hái quay ra đấu đá lẫn nhau. “Quần long vô thủ”, không loạn mới là lạ!

Còn hơn thế nữa, Hannibal đã tàn phá các vùng đất canh tác rộng lớn ở miền nam Italia và xua đuổi nhiều nông dân ra khỏi mảnh đất của họ khiến Rome trở thành nơi tập trung rất đông các công dân bị bần cùng hoá, trong đó có cả những cựu quân nhân sau nhiều năm chinh chiến ở nước ngoài trở về thấy đất đai của họ bị các láng giềng giàu có chiếm đoạt hoặc bị quân thù tàn phá tan hoang. Đó là những nguồn cơn của những khó khăn không thể tránh né của Rome sau này. Mặt khác, các công dân giàu có đã làm giàu bằng các của cải cướp được và chiến lợi phẩm chiến tranh. Những kẻ ít may mắn hơn thường phải bán đất cho những người mới giàu nên này, lập nên các latifundia rộng lớn. Số nô lệ xuất thân tù binh cũng gia tăng nhiều trên đất Italia, và những nô lệ này làm giảm đi tiền lương trả cho các người làm công. Nông dân không còn đất thường có ít lựa chọn ngoại trừ việc gia nhập hàng ngũ của những người thất nghiệp thường trực. Sự nghèo đói của họ làm cản trở việc tuyển mộ lính mới của quân đội Rome, vì Rome không có một ngân khố chiến tranh như thời hiện đại và chỉ có những người có đủ tiền tự trang bị mới có thể gia nhập các quân đoàn. Bần dân dễ thành mồi ngon cho những kẻ mị dân và nhiều người đã thực sự trở thành những kẻ phụ thuộc cho ông chủ này hay vị tư lệnh kia. Viện Nguyên Lão, nơi có thể mang lại sự lãnh đạo tinh thần cho đế quốc, cũng tự thấy không thể đứng vững trước cơn sóng ngầm đang tiến tới này. Những khuấy động mạnh mẽ mà cuộc chiến Punic II gây ra cuối cùng cũng đã hoá kiếp cho nền cộng hoà của Rome, bởi thế nên nhiều nhà sử học đã gọi Sự tan vỡ của nền cộng hoà Rome là ‘di sản của Hannibal’.

IV. SỰ TAN VỠ CỦA NỀN CỘNG HOÀ

Sau chiến tranh Punic II, những quân nhân giải ngũ từ nước ngoài trở về và những người dân qúa nghèo đều không còn ruộng đồng nhà cửa, giải pháp dễ nhất của họ, là dồn về Rome. May mắn cho họ, vào thời điểm đó, Rome đủ giàu có để nuôi sống gần một nửa dân số của nó bằng chi phí nhà nước qua việc phân phối lương thực miễn phí. Trong những năm kém thịnh vượng hơn sau năm 200, phí tổn trợ cấp này sẽ trở nên hết sức nặng nề đối với nền kinh tế đế quốc.

Việc tập trung một số lượng lớn bần dân về Rome đã gia tăng sức mạnh cho một cơ chế đối trọng với thể chế cộng hoà ở bề mặt xã hội Rome, đó là những mạng lưới khổng lồ của sự bảo trợ, gọi là ‘clientalia’, là một mối quan hệ nghĩa vụ qua lại giữa những người bảo trợ, ‘patronus’, thường là các nhà quý tộc hay cự phú, và các ‘clientes’, hay người được bảo trợ, thường là các công dân nghèo khổ, mà tài sản đáng giá nhất của họ là lá phiếu. Người chủ sẽ chăm sóc các thuộc hạ về nhiều mặt trong cuộc sống: khi họ vướng tới pháp luật, cần mượn tiền, cần lời khuyên hay nói chung cần được bảo vệ. Ngược lại, người được bảo trợ ủng hộ về mặt chính trị cho chủ, cả bỏ phiếu cho ông lẫn đồng minh của ông và góp phần làm gia tăng nhóm người ủng hộ chủ mình (có thể đây chính là hình mẫu cách làm việc của Bố Già Don Vito Corleone). Những chuyển động đó trong xã hội đã ngày càng vô hiệu hoá quyền lực của Viện Nguyên Lão và làm xói mòn sức mạnh của thể chế cộng hoà, đồng thời làm nổi lên tên tuổi những nhà độc tài như Cornelius Sulla, và Julius Caesar.

Khi Rome liên tiếp dấn sâu vào các cuộc chiến, các vị tướng có quyền thế bắt đầu xuất hiện, họ có sự ủng hộ của quân đội và dùng quân đội để nắm quyền lực. Trong những vị tướng ấy, nổi bật là Gaius Marius, vì ông đã thay đổi, một cách triệt để và vĩnh viễn, cách thức trở thành thành viên của quân đội Rome, và đã đưa sự trung thành của quân đội từ Viện Nguyên Lão sang tay các tướng lãnh. Để tuyển mộ nhiều lính hơn cho các cuộc chiến, Marius xoá bỏ yêu cầu cũ là một binh sĩ phải có một số tài sản nhất định để tự trang bị -các tướng lãnh sẽ trang bị cho họ-, và ông cũng nhận những người tình nguyện thay vì chỉ gọi những người đến thời gian làm nghĩa vụ quân sự. Từ lâu quân đội đứng ngoài hệ thống ‘clientalia’, nhưng từ khi có các cải cách của Marius vào những năm 106-102BC, các chiến binh, nay được tuyển dụng ngay cả từ những gia cấp nghèo nàn nhất, mà công dân nghèo thì Rome lúc đó không thiếu, bắt đầu trông đợi các tư lệnh của họ ban thưởng vì lòng trung thành đúng theo cách những người được bảo trợ được hưởng. Với lính tráng, một đồng lương đủ sống và một mảnh đất nho nhỏ nào đó ở các thuộc địa sau khi họ giải ngũ là đủ. Kết quả tỏ ra rất tai hại cho nền cộng hoà.

Lòng chảo Địa Trung Hải rung chuyển vì những quân đoàn kiểu mới được các tướng lãnh Rome tung ra, nhưng có vẻ các vị tướng Rome cũng thích so tài với nhau, và sau hàng loạt các cuộc nội chiến, người chiến thắng cuối cùng là Gaius Octavius lên ngôi hoàng đế, nền cộng hoà cáo chung. Thế nhưng, từ cuối thế kỷ II, các hoàng đế đã thận trọng gia tăng uy tín cho quân đội và làm cho Viện Nguyên Lão và ngành dân chính yếu đi. Nhưng rút cuộc, kẻ mà họ tạo ra chẳng mấy chốc đã bắt đầu cai trị họ, vì quân đội và các tướng lãnh của nó đã ra những quyết định lập và không lập các hoàng đế theo ý muốn của nó. “Dưỡng hổ di hoạ”, chính là như vậy.

V. VẾT TỬ THƯƠNG VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA

Cộng hoà chấm hết, đế chế bắt đầu, và Rome tưởng chừng như vẫn phát triển, nhưng mầm diệt vong đã bắt đầu phát tác rồi. Từ sau cải cách của Marius cho đến thảm họa rừng Tentoberg, đế quốc Rome mở rộng gần như gấp ba. Mặc dù đã cố gắng thu nạp các vùng lãnh thổ và dân cư theo cách thức đã nói, có vẻ như Rome thời điểm đó đã đạt tới giới hạn mà trình độ kĩ thuật và hành chính đương thời có thể đảm bảo cho một đế quốc tầm vóc đó vận hành tạm ổn. Hay là không?

Những kho của cải khổng lồ cướp được trong các cuộc bành trướng đã làm thoả mãn những thú vui xa hoa vượt mức tưởng tượng của giới thượng lưu Rome, và làm cho nó ngày càng tách biệt hơn với đa số dân thường chen chúc nhau trong những khu từ bình dân cho tới tồi tàn của Rome. Đổi lại, các hoàng đế lại cung cấp cho cư dân Rome thực phẩm và những trò chơi công cộng miễn phí, hay theo cách nói thông thường là ‘bánh mì và hí trường’ – một phương cách để giành ưu thế chính trị tương đối hiệu quả nhưng lại làm kinh tế suy yếu. Đối với người dân Rome, sống ở trung tâm của cái đế chế đang cai quản cả thế giới không hẳn đã là an toàn, vì lâu lâu hoàng đế và các cận vệ lại vi hành ban đêm, gây nên các vụ cướp phá bắt cóc hãm hiếp các kiểu mà lực lượng ‘vigiles’-cảnh sát đô thị sẽ cố ý nhắm mắt làm ngơ, và khi quá hứng chí thì hoàng đế đem kinh thành ra đốt chơi để lấy hứng làm thơ, như Nero năm 64. Một biểu hiệu xã hội rất xấu khác là như khi bốn hoàng đế Galba, Otho, Vitellius và Vespasianus bày trận đánh nhau ngay trên đường phố Rome năm 69 để tranh giành ngôi báu, đám đông dân chúng đã tụ tập reo hò cổ vũ vô tư như đang xem giác đấu trong hí trường.

Cuộc Chiến tranh Punic II của Hannibal, bằng những chiến thắng, ông bần cùng hoá một số đông dân chúng, làm cho người nghèo lại nghèo thêm, và đẩy họ vào tay đám mị dân, bằng chiến bại chung cuộc, ông mở ra đà bành trướng khủng khiếp tiếp theo sau đó của Rome, đã trao một núi của cải vào tay tầng lớp tinh hoa của Rome, làm kẻ giàu càng thêm giàu, để ăn chơi xa hoa, rồi vung tiền mua phiếu bầu và sự ủng hộ của quần chúng và lòng trung thành của quân đội. Nói theo Ibn Khadun, nhà chính trị học của thế giới Arab, đó là ‘một sự sụt giảm asabiya’, ý nói một xã hội do phân chia quyền lực và của cải không đồng đều đã làm cho các thành viên đánh mất tinh thần cố kết và lòng trung thành với xã hội lúc ban đầu.

Như vậy, Chiến tranh Punic II và những động thái của Rome sau đó đã dẫn tới những hệ quả: các phẩm tính tích cực của công dân bị tha hoá, vị thế địa chính trị thủ đô bị suy yếu, quân đội lũng đoạn chính quyền, xã hội phân hoá và tan rã. Dù rằng những quyết định và định hướng của Rome sau chiến tranh Punic II xem ra hợp lý và hiệu quả trong thời gian ngắn hạn, nhưng với độ lùi thời gian, ta đã thấy những quyết định và định hướng đó đem lại những hệ quả hết sức tai hại nào cho Rome. Và lịch sử đã cho thấy, những hệ quả bi thảm đó là không thể đảo ngược.

VI. KHI THẾ GIỚI TÀN NGÀY

Những vấn đề nội bộ của xã hội Rome vẫn còn có thể xoa dịu bao lâu các cuộc chiến vẫn còn đem về cho Rome hàng núi của cải và hàng đoàn nô lệ từ đủ mọi dân tộc, để kẻ giàu vẫn cứ đốt tiền xả láng, kẻ nghèo vẫn cứ quên đời nơi hí trường và ngoan ngoãn tung hô chính quyền, lính tráng vẫn có lương và những mảnh đất mới chinh phục để cắm dùi sau khi giải ngũ. Nhưng khi ngọn gió thời cuộc xoay chiều vào cuối thế kỷ II, mọi thứ bắt đầu chuyển động, và mọi chuyện ngày càng tồi tệ thêm đi…

Lạc Vũ Thái Bình – Mary D. Han
Huế – Sài Gòn, 10-2021

Thư mục tham khảo

  1. DK & Viện Smithsonian – Lịch Sử Thế Giới: Chân Dung Nhân Loại Theo Dòng Sự Kiện
  2. Mortimer Chambers – Lịch Sử Văn Minh Phương Tây
  3. Nigel Rodgers – Roma, Đế quốc hùng mạnh nhất
  4. Caius Suetonius Tranquillus – 12 hoàng đế La Mã
  5. Peter Turchin – Sự Thăng Trầm Của Các Đế Chế
  6. Alfred Thayer Mahan – Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started