Đi theo Quốc lộ 1A từ thành phố Huế ra Bắc, ngay sau khi vượt qua chợ An Hoà vài trăm mét, ta sẽ gặp một cây cầu nhỏ có biển đề “Cầu Chém”. Chính tại nơi hai nơi này, năm vị Anh Hùng Đức Tin đã dâng chính mạng sống mình để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa của các ngài.
Trước khi tuyến đường sắt được xây dựng cách đây khoảng 30 năm, thì đường quốc lộ mà nay đang băng qua cây cầu của đường sắt, lúc ấy băng qua sông đào bên ngoài Thành Nội trên một chiếc cầu nằm đối diện chợ An Hoà. Cầu này bây giờ không còn nữa, nhưng ngôi chợ vẫn luôn còn đó bên bờ sông đào. Các kẻ can án ra khỏi Thành Nội qua cửa Tây Bắc, thường gọi là cửa An Hoà. Họ đi qua cầu và dừng lại ở chợ An Hoà, nơi người ta dọn cho họ bữa ăn cuối cùng. Tiếp đến, theo đường cái quan, họ ra cho tới Cống Chém, nơi thường hành quyết. Vì các lý do khác nhau, mà ngoài Thánh Simon Phan Ðắc Hòa bị hành quyết ở Cống Chém, bốn vị Thánh tử đạo Anrê Trần Văn Trông, Micae Hồ Đình Hy, Phanxicô Trần Văn Trung và Giuse Lê Đăng Thị lại bị hành quyết ngay chợ An Hoà.
Chưa ai xác định pháp trường Cống Chém có từ khi nào? Lục tìm trong sách “Huế cổ, vết tích đạo và đời” của J.B.Roux, có nhắc đến sự việc diễn ra vào ngày 28/11/1835 tại pháp trường Cống Chém-An Hoà, triều Nguyễn tiến hành xử trảm Thánh Anrê Trần Văn Trông (sinh năm 1814 tại Kim Long, Huế, binh sĩ). Đó là cái ngày xưa nhất mà lịch sử thành văn còn tìm thấy được. Có lẽ pháp trường đã hình thành từ trước đó nữa, để triều Nguyễn ra oai, thiết nghi quyền lực.
Cha Launay đã thuật lại biến cố tử đạo của ngài: « Bà mẹ của Anrê, có các con của bà đi theo, đợi cậu quý tử ở chợ An Hoà… Đến gần đình làng, ông quan ra lệnh dừng lại và cho phép bà con đến giã từ vị tử đạo… Bà con và bạn hữu sắp thành hàng trước mặt ngài và chào ngài. Anrê nghiêng mình im lặng. Mẹ ngài nói với ngài: « Vĩnh biệt con, cầu nguyện cho mẹ ». Vị tử đạo cúi chào, vẫn luôn im lặng. Những lời giã biệt chấm dứt, viên chỉ huy bảo đoàn người tiến lên vài bước và ra lệnh dừng lại lần thứ hai. Giờ hành quyết đã điểm ». Một người thợ tháo chiếc gông và chặt đứt xiềng. « Anrê cầm lấy xiềng ấy đưa cho một người lính, xin anh giữ để trao cho mẹ ngài… Đoạn ngài ngồi xuống, làm dấu thánh giá và cầu nguyện… Khi chiếc đầu lăn xuống đất, mẹ ngài đến gần viên quan mà nói: « Bẩm quan, người này là con trai tôi, cho tôi xin chiếc đầu của nó, tôi van ông ». – « Được », viên chỉ huy đáp. Người nữ tín hữu đưa vạt áo ra và nhận lấy thủ cấp đáng kính mà tên đao phủ ném cho bà. « Thi hài vị tử đạo được mang về giáo họ Phường Đúc. Nhiều chứng nhân đã quả quyết rằng đôi bàn chân của vị tử đạo, dù đã không được rửa, vẫn trắng cách lạ lùng, đang khi đường đi xấu đến nỗi bùn lấm lên tới nửa ống chân. » Thánh Anrê Trần Văn Trông được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/11.

Vị chứng nhân đức tin tiếp theo đổ máu đào tại pháp trường Cống Chém-An Hoà vào ngày 12/12/1840. Đó là Thánh Simon Phan Ðắc Hòa, sinh năm 1787 tại Mai Vĩnh, Thừa Thiên, y sĩ. Ngày hôm đó, đội lý hình dẫn thánh nhân đi đến pháp trường xử án là Cổng Chém, gần chợ An Hoà, trói hai tay thánh nhân lại. Cho đến giây phút cuối cùng, ngài vẫn từ chối đạp lên thánh giá cách đáng khâm phục mặc cho bao lời năn nỉ. Quan thi hành án tuyên đọc bản án viết trên thẻ gỗ và ra lệnh sau tiếng trống thứ 3 thì chém đầu. Nhưng khi chiêng trống vừa nổi lên 3 hồi 9 tiếng thì vừa tới tiếng chiêng trống thứ nhất, lý hình đã vội chém đầu thánh nhân gần rơi khỏi cổ. Đội lý hình lấy gươm cắt đứt đầu khỏi cổ rồi tung lên cao cho mọi người xem thấy. Đầu rơi xuống đất ngay chỗ xác thánh nhân. Sau đó các quan và lính rút lui, còn lại một đội lính canh cái đầu. Quan ra lệnh trao thủ cấp của ngài cho dân làng ngoại giáo gần đó treo đủ ba ngàyđể thị uy. Gia đình Thầy và giáo dân Nhu Lý lấy vải cuốn xác Thầy, chờ đợi sau 3 ngày xin luôn thủ cấp rồi rước về an táng ở làng Nhu Lý. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/12.

Thánh Micae Hồ Ðình Hy, sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên, làm tới chức quan Thái Bộc trong triều đình Huế. Thánh nhân bị xử trảm ngày 22/05/1857 tại Cống Chém-An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, sử liệu còn ghi lại câu chuyện của ngài: “Nơi hành quyết đã định là Cống Chém nằm xa hơn nên sau khi qua cầu An Hoà, Hồ Đình Hy nói với viên sĩ quan: « Ngài đi xa làm chi cho nhọc; ở đây tôi có nhiều bạn bè quen biết, vị trí rất thuận tiện, hãy chém tôi ở đây ». Viên sĩ quan bằng lòng. « Người ta mang mấy tấm chiếu và một tấm thảm đến trải trước mặt Hồ Đình Hy. Ngài ngồi xuống, hút ống điếu như thể dọn mình cho một cuộc thăm viếng long trọng, ngài rửa chân, sửa tóc và y phục, rồi quỳ gối… Khi việc sửa soạn đã xong, vị tuyên tín nói với viên quan: « Xin chờ một chút ». Một linh mục, cha Hạnh, ẩn trong đám đông, đứng nhìn ngài. Vị tử đạo quay về phía linh mục, cúi đầu, làm dấu thánh giá, đấm ngực đang khi vị linh mục ban ơn xá giải cho ngài một lần nữa, đoạn ngài đưa đầu cho đao phủ ». Hài cốt của ngài hiện được trưng bày để tôn kính công khai trong nhà nguyện Đại Chủng Viện Huế. Thánh Micae Hồ Ðình Hy được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/05. Hài cốt của ngài hiện được trưng bày để tôn kính công khai trong nhà nguyện Đại Chủng Viện Huế.

Một đoạn khác trong sử liệu của J.B.Roux thuật lại chuyện xử trảm Thánh Phanxicô Nguyễn Văn Trung (sinh năm 1825 tại Phan Xã, Quảng Trị, cai đội) vào ngày 6/10/1858 tại pháp trường Cống Chém-An Hoà: “Bị dẫn đi hành hình từ sáng hôm ấy, Phanxicô Trung trải qua suốt ngày ở chợ An Hòa. Vào phút cuối, các quan đưa đơn thỉnh nguyện xin vua ân xá cho ngài. Phúc đáp của vua đến lúc 8 giờ tối. Vua Tự Đức từ chối đơn thỉnh nguyện và ban lệnh hành quyết ngay lập tức cựu cai Trung và trừng phạt các quan đã dám can thiệp…”. Vị linh mục đã giải tội cho ngài ban sáng không còn ở đó. Bấy giờ Phanxicô Trung quỳ gối, xin người ta dùng vôi vẽ lên cổ 2 đường hình thánh giá để khẳng định một lần nữa ý muốn của mình mãi là Kitô hữu, rồi ngài cúi đầu cho đao phủ chém. Thủ cấp thánh nhân sau đó bị bêu ba ngày trên những cây tre nằm ngay bên Cống Chém, sau đó người ta ráp lại với thi thể ngài và đem chôn tại giáo họ Dương Sơn. Thánh Phanxicô Nguyễn Văn Trung được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/10.

Ở Cống Chém-An Hoà ngày xưa, có hai hình thức xử trảm: xử trảm và xử giảo. J.B.Roux có một đoạn thuật lại việc xử giảo Thánh Giuse Lê Đăng Thị (sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị, cai đội) ngày 24/10/1860 như sau: “Tại nơi hành hình, cha Thanh ban phép xá giải cho ngài lần cuối. Kẻ can án quỳ gối và cầu nguyện một lúc đoạn hai người lính đặt ngài nằm sấp mặt xuống đất. Họ tròng một sợi dây vào cổ ngài rồi đứng hai bên, dùng hết sức mạnh kéo sợi dây đến độ dây phải đứt. Họ thay bằng sợi khác bền hơn và lại kéo cho đến khi vị chiến sĩ tốt lành của Đức Giêsu Kitô trút hơi thở cuối cùng”. Thi hài ngài được chôn tại giáo họ Phủ Cam theo nguyện ước của ngài. Một phần thánh tích của ngài đang được lưu giữ tại thánh đường giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Huế. Thánh Giuse Lê Đăng Thị được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 24/10.

Ngày 19 tháng 6 năm 1988, tại Rôma, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố năm vị chứng nhân đức tin kể trên cùng 112 vị khác là các thánh tử đạo của Hội Thánh. Còn pháp trường Cống Chém-An Hoà ngày xưa nay vẫn còn dấu tích, ở ngay trên đường quốc lộ 1A đoạn phía bắc thành phố Huế, mà có lẽ đôi người trong các bạn đã nhiều lần vô tình đi ngang qua mà chưa hề hay biết đến. Lần tiếp theo, xin hãy đi chậm lại một chút, để nhớ về năm vị Anh Hùng Đức Tin của chúng ta, và tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban sức lực cho các ngài để dũng cảm kiên trung với Chúa cho đến chết, cùng xin Thiên Chúa cũng ban ơn hộ phù nâng đỡ chúng ta để có thể đứng vững trước những thử thách và cám dỗ của cuộc đời lứ thứ trần gian.
Lạc Vũ Thái Bình
Huế, 09-2021